Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình sắp xếp, đổi mới và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam đặt ra mục tiêu hoàn tất cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp giai đoạn đến hết năm 2010, thu gọn số lượng đơn vị nắm giữ 100% vốn nhà nước xuống còn 554 doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, việc chuyển đổi các đơn vị kinh tế quy mô lớn sang mô hình công ty cổ phần đa sở hữu là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và minh bạch hóa thị trường vốn.

Công ty Cao su Bình Long thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam là một trong những đơn vị nòng cốt của ngành với quy mô quản lý 16.000 ha đất nông nghiệp tại tỉnh Bình Phước, trong đó diện tích khai thác đạt 14.530 ha và đội ngũ lao động lên đến 6.300 cán bộ công nhân viên. Mặc dù doanh nghiệp đạt kết quả sản xuất kinh doanh vượt bậc trong giai đoạn 2001 - 2006 với doanh thu năm 2006 đạt 1.076 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 415 tỷ đồng, tiến trình chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần tại đơn vị vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính đặc thù. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự phức tạp trong công tác xác định giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là việc định giá tài sản vườn cây sinh học chiếm tới 90% tổng tài sản, sự thiếu đồng bộ trong xử lý quyền sử dụng đất và tâm lý e ngại mất quyền tự chủ trong nội bộ.

Mục tiêu của luận văn là vận dụng hệ thống lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để nhận diện toàn diện các vướng mắc thực tiễn tại Công ty Cao su Bình Long tính đến hết quý 4 năm 2007; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa phương pháp định giá, tái cấu trúc vốn và hoàn thiện quản trị. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc bảo toàn và phát triển phần vốn nhà nước trị giá 1.183 tỷ đồng, đồng thời tạo khung đối chiếu thực tiễn giá trị cho các đơn vị cùng ngành trong tiến trình chuyển đổi sở hữu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuyển đổi sở hữu, lý thuyết tái cấu trúc doanh nghiệp và khung quản trị tài chính hiện đại. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiếp cận dưới góc độ là quá trình hai giai đoạn: vốn hóa tài sản doanh nghiệp dưới hình thức cổ phần và chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn nhà nước cho các cổ đông ngoài nhà nước nhằm đa dạng hóa cấu trúc sở hữu. Khung pháp lý chủ đạo điều chỉnh quá trình này bao gồm Luật Doanh nghiệp năm 2005, Quyết định số 248/2006/QĐ-TTg về đề án thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Thông tư số 146/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý tài chính khi chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần.

Về mặt khái niệm học thuật, nghiên cứu làm rõ các cấu phần:

  • Công ty cổ phần và cơ chế huy động vốn qua thị trường chứng khoán.
  • Giá trị vườn cây cao su: Bao gồm suất đầu tư tài sản trên đất sau chu kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài 7 năm kết hợp cùng giá trị gắn liền với đất đai.
  • Lợi thế kinh doanh: Đo lường qua năng lực sinh lời kỳ vọng vượt trội so với mặt bằng lãi suất trái phiếu chính phủ.
  • Chu kỳ kinh doanh tài sản sinh học: Đặc trưng khai thác kéo dài từ 20 đến 25 năm chịu tác động trực tiếp của biến động thị trường thế giới theo chu kỳ giá 10 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán giai đoạn 2001 - 2006, hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp lập năm 2007, các số liệu thống kê ngành cao su và dữ liệu giao dịch cổ phiếu thực tế của các công ty đã niêm yết như Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú (DPR) hay Công ty Cổ phần Cao su Tây Ninh (TRC). Nguồn dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua các đợt điều tra thực tế, phỏng vấn sâu trực tiếp các thành viên Ban chỉ đạo cổ phần hóa, tổ giúp việc và đại diện các phòng ban chức năng tại Công ty Cao su Bình Long.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích chuyên gia đối với toàn bộ 8 nông trường, 2 nhà máy chế biến trực thuộc cùng nhóm 4 doanh nghiệp quy mô tương đương trong Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam gồm Bình Long, Đồng Phú, Tây Ninh và Phước Hòa để tạo lập cơ sở so sánh chuẩn mực. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho vùng cao su trọng điểm Đông Nam Bộ, nơi có điều kiện thổ nhưỡng, năng suất và chu kỳ vườn cây tương đồng.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phương pháp tài sản kết hợp thống kê mô tả, phân tích nhân quả và kỹ thuật chiết khấu dòng tiền kỳ vọng. Timeline nghiên cứu bao quát dữ liệu sản xuất kinh doanh từ năm 2001 đến năm 2006 và các số liệu xác định giá trị tài sản tính đến hết quý 4 năm 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cao su Bình Long giai đoạn 2001 - 2006 đạt mức tăng trưởng rất ấn tượng, tạo nền tảng vốn vững chắc nhưng mô hình quản lý tập trung kiểu cũ đang kìm hãm tiềm năng. Doanh thu của công ty tăng từ 525,7 tỷ đồng năm 2001 lên 1.076 tỷ đồng năm 2006 (tăng 104,7%), lợi nhuận trước thuế tăng vọt từ 100,2 tỷ đồng lên 415 tỷ đồng (tăng 314,8%). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước tăng mạnh từ 32% năm 2001 lên 115% vào năm 2006, trong khi năng suất vườn cây đạt bình quân 2,016 tấn/ha, đưa thu nhập bình quân của 6.300 cán bộ công nhân viên từ 1,3 triệu đồng/tháng lên 5,46 triệu đồng/tháng.

Thứ hai, phương pháp xác định giá trị tài sản vườn cây cao su bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng. Khi áp dụng giá bán thanh lý vườn cây năm trước liền kề ở mức 207.000 đồng/cây của Bình Long, mức giá này cao hơn 73.000 đồng/cây so với mức 134.000 đồng/cây của Công ty Cao su Đồng Phú. Với quy mô khoảng 3,5 triệu cây kinh doanh, sự chênh lệch này đã làm tăng cơ học giá trị tài sản doanh nghiệp lên hơn 255,5 tỷ đồng, tạo gánh nặng khấu hao và giá thành rất lớn cho doanh nghiệp sau khi chuyển đổi.

Thứ ba, việc xác định giá trị bình quân trên 1 ha vườn cây khai thác giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn có sự chênh lệch bất hợp lý. Giá trị xác định lại bình quân 1 ha vườn cây tại Bình Long lên tới 46.029.899 đồng/ha, cao hơn mức 43.099.712 đồng/ha của Công ty Cao su Phước Hòa khoảng 2.930.187 đồng/ha. Khi tính trên tổng diện tích khai thác 14.274,55 ha, mức chênh lệch tuyệt đối vượt quá 41,8 tỷ đồng.

Thứ tư, cách tính lợi thế kinh doanh dựa trên chu kỳ 5 năm liền kề (với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước đạt 58,37% so với mức lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm là 7,95%) là quá ngắn đối với cây cao su, vô tình khuếch đại giá trị vô hình vào thời điểm giá mủ thế giới đang ở đỉnh chu kỳ.

Thảo luận kết quả

Bản chất của các tồn tại nêu trên bắt nguồn từ tính chất sinh học đặc thù của tài sản nông nghiệp có chu kỳ khai thác dài từ 20 đến 25 năm, đòi hỏi thời gian kiến thiết cơ bản 7 năm. Trong thực tế, giá cao su thế giới biến động rất mạnh, từng có thời điểm rơi xuống mức 600 USD/tấn trước khi phục hồi trên 1.100 USD/tấn. Nếu lấy giá trị thanh lý ngắn hạn của một năm thuận lợi để áp đặt cho toàn bộ chu kỳ dài hạn sẽ làm sai lệch bản chất kỳ vọng của nhà đầu tư.

Để làm rõ bức tranh tài chính, các dữ liệu tăng trưởng giai đoạn 2001 - 2006 được minh họa sinh động qua biểu đồ đường xu hướng lợi nhuận và doanh thu vượt kế hoạch từ 11% đến 32% qua từng năm; đồng thời ma trận so sánh bảng biểu giữa 4 đơn vị Bình Long, Đồng Phú, Tây Ninh, Phước Hòa đã chỉ rõ các điểm vênh về nguyên giá và giá trị thanh lý ước tính.

So sánh với bài học quốc tế, tiến trình cổ phần hóa tại Trung Quốc cho thấy 117 doanh nghiệp đã huy động thành công 45,5 tỷ USD thông qua việc định giá linh hoạt theo thị trường. Tại Việt Nam, cổ phiếu của các công ty cao su sau cổ phần hóa như HRC (63.000 đồng), DPR (70.500 đồng) và TRC (77.000 đồng) đều giao dịch gấp 6 đến 7 lần mệnh giá ban đầu. Luận văn cũng lưu ý việc kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh 3 sai phạm thường gặp theo tổng kết của Thanh tra Chính phủ: kiểm kê phân loại tài sản sai thực tế, bán cổ phần ưu đãi sai đối tượng và xác định sai giá trị tài sản doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện tiến trình cổ phần hóa tại Công ty Cao su Bình Long, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Điều chỉnh phương pháp xác định giá trị vườn cây và giá trị thanh lý: Ban chỉ đạo cổ phần hóa phối hợp cùng đơn vị tư vấn thay thế việc lấy giá thanh lý 1 năm bằng mức giá bình quân của chu kỳ 5 - 10 năm. Loại trừ phần giá trị thanh lý ước tính ra khỏi nguyên giá vườn cây để tránh tăng chi phí phân bổ vô hình 255,5 tỷ đồng, hoàn thành phương án điều chỉnh trong quý 1 năm 2008.
  2. Minh bạch hóa cơ chế định giá quyền sử dụng đất và quyền thuê đất: Ban chỉ đạo cổ phần hóa công ty phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước rà soát toàn bộ 16.000 ha đất cao su. Tách bạch rõ ràng giữa chi phí thuê đất nông nghiệp hàng năm nộp ngân sách và giá trị tài sản gắn liền với đất, bảo đảm hoàn thành hồ sơ địa chính trong quý 2 năm 2008.
  3. Cơ cấu lại tỷ lệ sở hữu và mở rộng chính sách ưu đãi cho người lao động: Đề xuất Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam giảm tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước bắt buộc từ mức trên 60% xuống 51%, dành tối thiểu 15% đến 20% cổ phần bán ưu đãi cho 6.300 cán bộ công nhân viên và thu hút các đối tác chiến lược trong giai đoạn 2008 - 2009.
  4. Kiện toàn mô hình tổ chức và xử lý tài sản không cần dùng: Hội đồng quản trị và Ban điều hành mới tiến hành bàn giao, thanh lý dứt điểm khối tài sản hư hỏng chờ xử lý trị giá 35,77 tỷ đồng; tái cấu trúc 8 nông trường và 2 nhà máy theo mô hình công ty cổ phần tinh gọn ngay sau Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn sau cổ phần hóa đạt trên 30%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban lãnh đạo và Tổ giúp việc cổ phần hóa tại các doanh nghiệp nông nghiệp: Cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình kiểm kê, phương pháp xử lý dòng tiền và kinh nghiệm định giá tài sản sinh học quy mô lớn trên 10.000 ha.
  • Các tổ chức tư vấn tài chính, thẩm định giá và công ty chứng khoán: Khai thác mô hình định lượng tính toán lợi thế kinh doanh, suất đầu tư bình quân trên 1 ha vườn cây cao su và phương pháp chiết khấu rủi ro chu kỳ giá hàng hóa.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Ban Đổi mới DN): Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những bất cập của Thông tư 146/2007/TT-BTC để hoàn thiện thể chế định giá đất đai và tài sản đặc thù ngành cao su.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản trị kinh doanh và Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị với chuỗi dữ liệu thực nghiệm 6 năm chuẩn xác (2001 - 2006) về tái cấu trúc vốn và chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc định giá vườn cây cao su tại Công ty Cao su Bình Long lại phức tạp hơn các doanh nghiệp thông thường?
Vườn cây cao su chiếm tới 90% tổng tài sản công ty và mang tính chất tài sản sinh học gắn liền với quyền sử dụng 16.000 ha đất nông nghiệp. Giá trị vườn cây phụ thuộc vào chu kỳ kiến thiết cơ bản 7 năm, thời gian khai thác 20 - 25 năm, biến động năng suất và rủi ro thiên tai dịch bệnh khó lượng hóa bằng phương pháp kế toán thông thường.

Việc áp giá thanh lý cây cao su 207.000 đồng/cây đã tạo ra tác động tiêu cực nào?
Áp dụng đơn giá bán cây thanh lý của năm trước liền kề khiến mức định giá của Bình Long cao hơn đơn vị bạn 73.000 đồng/cây. Khi nhân với 3,5 triệu cây kinh doanh, giá trị tài sản tính toán bị đội lên 255,5 tỷ đồng, làm tăng áp lực trích khấu hao và giá thành sản phẩm sau cổ phần hóa.

Hiệu quả kinh doanh giai đoạn 2001 - 2006 đóng vai trò gì đối với tiến trình cổ phần hóa?
Doanh thu tăng trưởng từ 525,7 tỷ lên 1.076 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế tăng từ 100,2 tỷ lên 415 tỷ đồng giúp nâng cao sức hút của cổ phiếu. Tỷ suất sinh lời trên vốn nhà nước đạt 115% là cơ sở vững chắc để phát hành cổ phần ra công chúng với giá trị thặng dư cao.

Vì sao luận văn kiến nghị giảm tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ xuống 51%?
Việc duy trì tỷ lệ nhà nước quá cao (trên 60%) sẽ làm giảm tính năng động trong quản trị và hạn chế thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ xã hội. Mức 51% vẫn bảo đảm quyền chi phối của Nhà nước tại doanh nghiệp then chốt, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược tham gia đổi mới công nghệ.

Bài học cốt lõi từ các công ty đi trước (Đồng Phú, Tây Ninh, Phước Hòa) là gì?
Cổ phần hóa phải gắn liền toàn diện chuỗi giá trị từ khâu trồng trọt, khai thác đến chế biến mủ để duy trì thế chủ động. Cổ phiếu của các đơn vị này sau niêm yết đều đạt thị giá từ 63.000 đến 77.000 đồng, chứng minh sức hấp dẫn vượt trội của ngành cao su khi hoạt động theo cơ chế thị trường.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực trồng và chế biến cao su thiên nhiên.
  • Phân tích bức tranh tài chính xuất sắc của Công ty Cao su Bình Long giai đoạn 2001 - 2006 với doanh thu vượt 1.076 tỷ đồng và lợi nhuận 415 tỷ đồng, khẳng định vị thế đơn vị dẫn đầu ngành.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn trọng yếu trong công tác định giá tài sản vườn cây 16.000 ha, xác định lợi thế thương mại và phân bổ giá trị thanh lý chênh lệch 255,5 tỷ đồng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện phương pháp định giá, minh bạch hóa quyền sử dụng đất, tối ưu hóa cơ cấu sở hữu 51% và nâng cao đời sống cho 6.300 lao động.
  • Lộ trình thực thi các giải pháp cần được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2008 - 2009 nhằm sớm hoàn tất chuyển đổi mô hình, đưa doanh nghiệp niêm yết thành công trên thị trường chứng khoán.

Để khai thác toàn bộ mô hình tính toán định lượng và các bảng dữ liệu xác định giá trị doanh nghiệp chi tiết, bạn đọc và các nhà nghiên cứu có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.