CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài: Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 và khủng hoảng nợ Châu Âu là sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức. Bởi vì lợi ích đòn bẩy tài chính mang lại quá lớn, nó là cơ hội để gia tăng sức mạnh đồng vốn của công ty, đóng một vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường hiện nay, là một công cụ được các nhà quản lý ưu dùng để khuếch đại năng lực tài chính của công ty. Để có lợi nhuận cao từ số vốn bỏ ra thì tiềm lực tài chính là yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra các chính sách hợp lý và thành công. Tuy nhiên việc sử dụng công cụ tài chính thành công hay thất bại tùy thuộc vào quyết định cơ cấu tài chính, cấu trúc vốn của công ty đó.
Mỗi công ty cũng như mỗi nhà quản lý có mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau và họ cần xác định được ngưỡng chấp nhận rủi ro của công ty mình. Chính vì thế vấn đề sử dụng đòn bẩy ở mức độ bao nhiêu lại tùy thuộc vào nhà quản lý và chủ sở hữu của công ty, tùy vào ảnh hưởng của công ty nhiều hay ít và quyền kiểm soát của chủ sở hữu họ có những mục tiêu và quyết định khác nhau ảnh hưởng đến quyết định đòn bẩy của công ty. Với cơ cấu các công ty niêm yết trên thị trường hiện nay, hầu hết là công ty cổ phần với mức độ tập trung tỷ lệ vốn sở hữu khác nhau và xu hướng sử dụng đòn bẩy của các công ty cũng khác nhau, câu hỏi đặt ra liệu có tồn tại mối quan hệ giữa mức độ quyền sở hữu tập trung và đòn bẩy tài chính hay không. Đặc biệt, với tính chất đặc thù giống như các quốc gia Châu Á khác, nhiều công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam là công ty có sở hữu và chịu quyền kiểm soát gia đình.
Liệu sự kiểm soát này có ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ trên nếu mối quan hệ này thật sự tồn tại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Để tìm hiểu rõ những vấn đề trên tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ phi tuyến giữa quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính: vai trò của kiểm soát gia đình” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chính Bài luận văn tổng hợp các bài nghiên cứu trước đây và xem xét bằng chứng thực nghiệm mối quan hệ giữa mức độ sở hữu và đòn bẩy tài chính và vai trò điều tiết của kiểm soát gia đình đối với các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.2 Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ sở hữu và đòn bẩy tài chính và vai trò điều tiết của kiểm soát gia đình tác giả cụ thể trả lời những câu hỏi sau: 1. Có tồn tại hay không mối quan hệ phi tuyến giữa quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính? 2. Yếu tố kiểm soát gia đình có tác động thế nào đến mối quan hệ giữa quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm đòn bẩy tài chính, quyền kiểm soát tập trung, kiểm soát gia đình.
Bao gồm các học thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đề cập đến mối quan hệ chính mối quan hệ giữa quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính cũng như tác động điều tiết của kiểm soát gia đình.2 Phạm vi nghiên cứu Về không gian: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó các công ty tài chính (ngân hàng, bảo hiểm.) được loại trừ khỏi mẫu vì tính không đồng nhất trong kinh doanh. Đây là các doanh nghiệp đầy đủ dữ liệu quan sát trong giai đoạn nghiên cứu. Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian từ giai đoạn 2011- 2015, sau khủng hoảng tài chính.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Bài nghiên cứu dùng dữ liệu bảng. Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ nguồn dữ liệu Vietstock và từ nguồn dữ liệu Datastreams.
Bài nghiên cứu lần lượt kiểm định các khuyết điểm định lượng, hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi, áp dụng mô hình GMM là mô hình chính và phương pháp hồi quy của Fama-MacBeth để so sánh và đối chiếu kết quả các biến và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài sẽ được mô tả rõ hơn trong chương 3. Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata để thực hiện định lượng kiểm định mối quan hệ quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính.5 Ý nghĩa của đề tài Đối với mối mối quan hệ quyền kiểm soát tập trung và đòn bẩy tài chính trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy có mỗi quan hệ phi tuyến tính giữa hai yếu tố này. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay vấn đề này vẫn chưa tồn tại bài nghiên cứu trả lời rõ ràng những vấn đề này cũng như đánh giá yếu tố kiểm soát gia đình có tác động thế nào đến mối quan hệ. Bài nghiên cứu có ý nghĩa như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần đóng góp bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015.
Từ kết quả thực nghiệm tác giả sẽ khẳng định và củng cố một số nghiên cứu trước đây. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác định tác động trên. Từ kết quả, đưa ra cho nhà quản trị các xu hướng sử dụng nợ phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của nhà quản trị đối với các công ty tại Việt Nam. Đồng thời cũng cung cấp thêm thông tin về một khía cạnh mới giúp các nhà đầu tư, các tổ chức cho vay trong việc đánh giá được xu hướng sử dụng nợ của một doanh nghiệp dựa vào đặc điểm mức độ sở hữu tập trung và loại hình sở hữu của doanh nghiệp.
Từ việc hiểu rõ hơn mối quan hệ khách quan, khoa học giữa hai yếu tố mức độ sở hữu và đòn bẩy tài chính cũng như tác động của kiểm soát gia đình giúp nhà quản trị nhìn nhận rõ hơn chiều hướng ảnh hưởng cấu trúc vốn từ đó có những định hướng, điều chỉnh, dự báo và quản trị vốn tốt hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi: Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn nhằm mục đích trả lời câu hỏi tại sao một doanh nghiệp không bao giờ được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần hoặc hoàn toàn bằng nợ vay. Tài trợ nợ góp phần giúp doanh nghiệp được hưởng lợi ích to lớn từ tấm chắn thuế. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp vay nợ ngày càng nhiều thì rủi ro phá sản sẽ tăng cao và đến một lúc nào đó giá trị của tấm chắn thuế bằng với giá trị của chi phí kiệt quệ tài chính.
Lý thuyết đánh đổi cho rằng với tỷ lệ nợ tăng thêm, thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng lên cùng với xu hướng gia tăng của lợi ích tấm chắn thuế, khi giá trị tăng thêm của lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn giá trị tăng thêm của chi phí kiệt quệ tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu thì việc vay nợ sẽ ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp. Chính vì thế tùy vào đặc điểm của từng doanh nghiệp mà tỷ lệ nợ mục tiêu được thiết lập khác nhau nhằm mục đích tối ưu hóa giá trị công ty. Các thành viên, chủ sở hữu nắm quyền kiểm soát tài chính công ty thường coi quyết định về nợ - vốn cổ phần của doanh nghiệp như là một đánh đổi giữa tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Họ thường có xu hướng tăng tài trợ nợ đến một mức nhất định khi giá trị biên của Pv (tấm chắn thuế) = Pv ( chi phí kiệt quệ tài chính).
Lý thuyết trật tự phân hạng: Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là những nghiên cứu của Donaldson (1961). Myers và Majluf (1984) đã có những nghiên cứu sâu hơn để chỉ ra rằng có một trật tự ưu tiên trong sử dụng các nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa phát hành nợ mới và phát hành cổ phần bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng. Đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 bộ, chủ yếu là lợi nhuận tài đầu tư, rồi mới đến phát hành nợ mới, và cuối cùng bằng phát hành vốn cổ phần mới. Lý thuyết trật tự phân hạng cố gắng để làm giảm chi phí của bất cân xứng thông tin, vì những loại vốn và nợ doanh nghiệp sử dụng sẽ tạo ra dấu hiệu cho các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp.
Từ lý thuyết trật tự phân hạng ta có thể thấy nếu có giới hạn về lợi nhuận giữ lại thì các thành viên, nhà quản lý hoặc chủ sở hữu nắm quyền kiểm soát cao của công ty có xu hướng ưu tiên sử dụng nợ để tài trợ nhiều hơn là các hình thức tài trợ vốn từ bên ngoài khác. Tuy nhiên tài trợ nợ sẽ làm một dấu hiệu ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh công ty đối với nhà đầu tư bên ngoài, chính vì thế tùy vào mục tiêu và đặc trưng của chủ sỡ hữu nắm quyền kiểm soát mà họ có những quyết định về mức độ tài trợ nợ khác nhau. Lý thuyết chi phí đại diện: Chi phí đại diện là chi phí phát sinh khi xảy ra sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của quản lý và cổ đông trong công ty nhất là khi có sự phân biệt giữa quản lý và sở hữu trong doanh nghiệp. Alchian và Demsetz (1972) đã đặt nền móng cho lý thuyết này và sau đó được Jesen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976.
Nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh chi phí đại diện là thông tin bất cân xứng do các cổ đông không hoặc ít có điều kiện giám sát những hành động của nhà quản lý. Nhà quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu và thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn và phức tạp.