CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHUỖI BÁN LẺ 1. Những hiểu biết cơ bản về chuỗi bán lẻ 1. Khái niệm Chuỗi bán lẻ (CBL) hay “CH chuỗi” (Chain Store) là một loại hình bán lẻ đặc biệt, được coi là một trong số những phát triển quan trọng nhất của hoạt động bán lẻ thế kỷ 21. CBL còn có thể được hiểu là một khái niệm dùng để chỉ một hệ thống các cửa hàng chuyên doanh, CHTL, ST, TTTM, v.v… của một nhà phân phối được đặt ở các địa bàn khác nhau nhưng áp dụng phương thức kinh doanh thống nhất.
Trong CBL thì các mặt hàng, giá cả, phương thức quản lý quầy hàng, gian hàng trưng bày hàng hóa, biểu hiện và hình thức bên ngoài là tương tự nhau… Hệ thống CBL: bao gồm chuỗi cửa hàng, chuỗi ST theo quy chuẩn. Một nhà phân phối bán lẻ theo mô hình chuỗi có thể sử dụng một hay nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Trên thực tế, một hệ thống CBL có thể bao gồm: Cửa hàng tiện lợi (Convenience Store) Có nhiều khái niệm về cửa hàng tiện lợi, tiêu biểu với những đặc điểm sau: đây là loại cửa hàng cung cấp sự tiện lợi cho người tiêu dùng; quy mô cửa hàng nhỏ; nằm gần các khu dân cư. Hàng hóa và dịch vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu nhất với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Những cửa hàng này nẳm cạnh khu dân cư và thời gian mở cửa rất dài, suốt 7 ngày trong tuần. Cửa hàng tiện lợi ở các nước khác nhau là không giống nhau. Cửa hàng chuyên doanh (Specialty Store) Cửa hàng chuyên doanh là một loại cửa hàng chuyên kinh doanh một nhóm mặt hàng nhất định, theo hai hướng chuyên doanh hẹp (là loại cửa hàng chỉ bán một nhóm sản phẩm của một nhà cung cấp, như cửa hàng chuyên bán sữa của Vinamilk) hay chuyên doanh rộng (là loại cửa hàng bán cùng một loại sản phẩm của nhiều nhà cung cấp, như ở VN thì có cửa hàng thế giới di động, chuyên bán các loại điện thoại của nhiều hãng, cửa hàng PNJ chuyên cung cấp các loại trang sức đá quý. Có thể hiểu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cửa hàng chuyên doanh chỉ cung cấp một hay một nhóm hàng hóa nhất định hay chỉ phục vụ một nhóm người tiêu dùng nhất định.
Siêu thị (Supermarket) Các nước khác nhau có nhiều cách định nghĩa về “ST” khác nhau. Nhưng một cách chung nhất thì “ST” được hiểu là một thuật ngữ chỉ một cơ sở bán lẻ theo phương thức tự phục vụ, có nhóm mặt hàng tương đối rộng và sâu, chủ yếu là các mặt hàng thực phẩm và một số nhóm hàng công nghệ tiêu dùng có phổ chất lượng/giá rộng rãi nhằm thoả mãn đa dạng, đồng bộ các loại nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và liên đới tiêu dùng thực phẩm của một gia đình, một căn hộ với quy mô khác nhau. Theo Quy chế kinh doanh ST của Bộ Thương mại (Quyết định 1371/2004/QĐ- BTM ban hành ngày 24/9/2004) thì định nghĩa: “Siêu thị” là loại cửa hàng hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh, có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có phương thức phục vụ văn minh thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng. ST được phân ra làm 3 hạng gồm: ST hạng 1 phải có diện tích tối thiểu là 5.000 chủng loại hàng hóa trở lên; ST hạng 2 có diện tích từ 2.000 chủng loại hàng hóa trở lên; ST hạng 3 có diện tích tối thiểu 500 m2 và 4.000 chủng loại hàng hóa trở lên.
Đặc điểm của chuỗi ST là cung cấp dịch vụ khách hàng ở mức vừa phải, nhưng giá lại rất cạnh tranh, cận biên lợi nhuận mỏng. Vì vậy yêu cầu quan trọng nhất đối với ST là phải tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa càng nhanh càng tốt. Khi mua hàng trong ST, người mua được tự do nhìn ngắm, lựa chọn, so sánh hàng hóa mà không có cản trở nào từ người bán. Người mua không tốn công mặc cả và tiết tiệm được thời gian mua sắm do giá cả được niêm yết rõ ràng.
Đối với các công ty sẽ tiết kiệm được chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên (thường chiếm tới 30% chi phí kinh doanh). Sự ra đời của ST được coi là cuộc cách mạng trong lĩnh vực phân phối bán lẻ vì chính ST sáng tạo ra phương thức tự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phục vụ và nghệ thuật trưng bày hàng hóa. Đại Siêu thị (Hypermarket) Đại ST được định nghĩa là cửa hàng thương mại bán lẻ khối lượng lớn tại một địa điểm, dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và có quy mô lớn hơn nhiều so với ST, thường nằm ở ngoại ô các thành phố lớn có bãi xe rộng. Một cách định nghĩa khác của “Đại ST” cũng thường được sử dụng, đó là một cửa hàng với diện tích bán hàng trên 2.500m2, với ít nhất 35% diện tích đó dành cho các sản phẩm không thiết yếu.
Đại ST thường ở các vị trí xa trung tâm hoặc đóng vai trò là cửa hàng trung tâm trong một khu mua sắm hay trung tâm mua sắm). Một vài ví dụ về đại siêu thị là: Loblaw and Superstore (Canada), Fred Meyer, Meijer and Super Kmart (US), Asda and Tesco (UK), Carrefour and NTUC Fairprice (Singapore), v. Trung tâm thương mại (Commercial Center) Theo Quyết định 1371 (ngày 24-9-2004) của Bộ Thương mại, Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ, hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê…được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng. TTTM chia thành 3 hạng: các TTTM hạng 1 phải có diện tích từ 50.000 m2 trở lên; hạng 2 là 30.000 m2 và hạng 3 là 10.
Ngoài ra, QĐ 1371 còn nêu rõ TTTM phải có đủ tiêu chuẩn như: nơi để xe, khu vệ sinh, các dịch vụ đi kèm, hệ thống nhà hàng… chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm.Parkson và Diamond Plaza, Vincom, Now Zone, Crescent Mall. là những nơi được ưa chuộng nhất ở TP. Còn ở Hà Nội là Vincom, Tràng Tiền Plaza, Grand Plaza, The Manor và Parkson. Đặc điểm Cũng giống như các hình thức bán lẻ khác, hệ thống CBL có những đặc điểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cơ bản như sau: - Khách hàng chủ động và độc lập trong lựa chọn và quyết định mua hàng.
- Hoạt động cung cấp nhiều nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ. - Phân tán trong không gian phục vụ và có hiệu lực xác định do đặc điểm và quy luật phân bố dân cư quy định. - Hoạt động bán lẻ có tỷ lệ lao động sống cao khác với hoạt động sản xuất thường và có thể cơ giới hóa. Do vậy, vai trò nguồn lực con người trong bán lẻ là đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định.
- Cạnh tranh trong bán lẻ gay gắt hơn do có nhiều hình thức bán lẻ của nhiều thành phần tham gia trong cùng một khu vực địa lý. - Bán lẻ hàng hóa có nội dung chủ yếu là kinh doanh hàng hóa được thực hiện thông qua và gắn liền với cung ứng dịch vụ phân phối. - Người bán hàng thực hiện nhiều công việc khác nhau (trưng bày, bán hàng, vệ sinh hàng hóa,. đồng thời phải năng động và thành thạo nghiệp vụ bán hàng.
Tuy nhiên, chuỗi bán lẻ cũng có điểm đặc trưng riêng biệt : Thứ nhất: Chuỗi bán lẻ bao gồm nhiều cửa hàng cùng chung một sở hữu và các phương thức kiểm soát, với một hệ thống chính sách chiến lược được áp dụng chung cho mọi cửa hàng trong toàn hệ thống. Thứ hai: Các cửa hàng trong chuỗi được chỉ đạo, điều hành và quản lý tập trung từ một đầu mối thống nhất sao cho phù hợp với triết lý và phương châm kinh doanh của toàn hệ thống. Sự chỉ đạo này được thông qua mạng lưới thông tin tập trung và áp dụng thống nhất từ công tác thu mua và hệ thống hậu cần cung ứng hàng hóa cho đến hoạch định và thực hiện chiến lược marketing hỗn hợp, triển khai dịch vụ kết hợp và tiêu thụ hàng hóa. Thứ ba: Chuỗi bán lẻ tổ chức công tác thu mua và phân phối tập trung theo mô hình chuỗi cung ứng.
Việc này giúp cho chuỗi bán lẻ khai thác tối đa thế mạnh kinh doanh chuỗi của mình do mua hàng trên quy mô lớn và tận dụng được nhiều ưu đãi và đầu tư của nhà cung cấp. Đây là nền tảng giúp chuỗi bán lẻ có giá mua hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thấp, cho phép hình thành biểu giá có tính cạnh tranh cao, nhờ vậy thu hút khách hàng tốt hơn và tiêu thụ sản phẩm hiệu quả hơn. Thứ tư: Các cửa hàng trong một chuỗi bán lẻ được chuẩn hóa khi bán những mặt hàng giống nhau về chủng loại, cơ cấu và số lượng; có phương thức phục vụ tương tự và mang phong cách đồng nhất về hình thức trang trí bên trong và bên ngoài, cách thức sắp xếp bố trí và trưng bày hàng hóa, thậm chí kiểu kiến trúc cửa hiệu y hệt nhau. Một chuỗi cửa hàng có kiến trúc với phong cách đồng nhất sẽ giúp làm nổi bật mỗi cửa hàng đơn vị và giúp khách hàng dễ nhận ra hơn, gắn bó với chuỗi cửa hàng hơn.
Nói cách khác, đây là việc xây dựng một hình ảnh mang đậm nét đặc trưng riêng của chuỗi siêu thị trong tâm trí khách hàng. Phân loại Có 2 loại hình kinh doanh bán lẻ: kinh doanh bán lẻ truyền thống và kinh doanh bán lẻ hiện đại: Kinh doanh bán lẻ truyền thống: Là phương thức bán lẻ trong đó chủ yếu sử dụng phương thức bán hàng thủ công, trự c tiếp. Người mua hàng thực hiện việc lựa chọn hàng hoá dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán hàng. Các loại hình bán lẻ truyền thống thường được tổ chức dưới dạng các cửa hàng nhỏ, chợ, xe bán hàng rong .