Tổng quan nghiên cứu

Thị trường năng lượng toàn cầu trong giai đoạn 2007 - 2011 ghi nhận những đợt biến động giá dầu thô chưa từng có trong lịch sử, từ mức đỉnh kỷ lục 145 USD/thùng vào tháng 07/2008 sụt giảm mạnh xuống đáy 33 USD/thùng vào cuối năm 2008, sau đó nhanh chóng bật tăng trở lại vượt mốc 109,85 USD/thùng vào tháng 04/2011 và đạt 123 USD/thùng trong 9 tháng đầu năm 2011. Tại Việt Nam, dù sở hữu tài nguyên dầu mỏ thô nhưng do năng lực lọc hóa dầu nội địa thời điểm này chỉ đáp ứng một phần nhỏ từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, nền kinh tế vẫn phải nhập khẩu gần như 100% các chế phẩm xăng dầu để phục vụ tiêu dùng và sản xuất. Tình trạng này khiến thị trường trong nước chịu áp lực truyền dẫn trực tiếp từ các cú sốc giá thế giới, đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa việc duy trì giá bán lẻ ổn định nhằm kiềm chế lạm phát và việc bảo đảm hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thế giới đến các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam, đánh giá thực trạng các công cụ quản lý giá nhà nước qua từng thời kỳ từ bù lỗ sang cơ chế thị trường có định hướng, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm bình ổn thị trường xăng dầu quốc gia.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thị trường xăng dầu Việt Nam và thế giới từ trước năm 2000 đến năm 2011, với định hướng dự báo nhu cầu năng lượng đến năm 2020 và tầm nhìn 2050. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua việc lượng hóa tác động: khi giá xăng dầu bán lẻ điều chỉnh tăng 26,8% (từ mức 16.400 đồng/lít lên 20.800 đồng/lít vào tháng 08/2011), chỉ số giá tiêu dùng CPI trực tiếp tăng 0,69% và gián tiếp tăng 0,49%, đẩy tổng CPI tăng thêm 1,19%, đồng thời làm giảm 0,93% sức mua thực tế của hơn 80 triệu người dân. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý giá năng lượng trong giai đoạn hội nhập sâu rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết điều tiết giá vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, lý thuyết cân bằng thị trường vi mô và lý thuyết quản trị rủi ro chuỗi cung ứng thông qua các công cụ phái sinh tài chính. Trong điều kiện thị trường tự do tồn tại các khuyết tật như độc quyền nhóm và thông tin bất đối xứng, sự can thiệp của Nhà nước là tất yếu khách quan nhằm thiết lập các mức giá trần, giá sàn hoặc giá khung để bảo vệ lợi ích công cộng và ngăn chặn hiện tượng lạm phát chi phí đẩy. Mô hình cân bằng thuế quan cho một quốc gia nhỏ nhập khẩu được vận dụng để phân tích sự đánh đổi giữa nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu xăng dầu và tổn thất phúc lợi xã hội của người tiêu dùng.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm: Giá cơ sở hình thành từ giá nhập khẩu CIF kết hợp các loại thuế phí; Quỹ bình ổn giá hoạt động theo cơ chế trích lập trước chi tiêu sau để giảm chấn biến động giá; và Nghiệp vụ phòng hộ rủi ro tài chính (hedging) bằng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn. Cơ sở lý luận được củng cố bằng bài học thực tiễn từ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) với việc kiểm soát 2/3 trữ lượng dầu toàn cầu để điều tiết hạn ngạch khai thác, kinh nghiệm trợ cấp của Indonesia với gói ngân sách bình ổn 4.650 tỷ rupiah (tương đương 465 triệu USD) trợ cấp trực tiếp 300.000 rupiah/tháng cho các hộ nghèo, và mô hình kiểm soát giá nghiêm ngặt thông qua Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia của Trung Quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ các công bố chính thức của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), cùng các báo cáo chuyên ngành quốc tế từ Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA). Bộ dữ liệu khảo sát chuỗi thời gian liên tục từ năm 1970 đến tháng 09/2011 với cỡ mẫu gồm 41 quan sát năm và 15 quan sát tháng chi tiết trong giai đoạn biến động mạnh 2010 - 2011, kết hợp cùng dữ liệu điều tra mức sống dân cư trên quy mô toàn quốc năm 2010 của 5 nhóm thu nhập.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để trích xuất 8 nhóm ngành kinh tế trọng yếu có tỷ trọng sử dụng nhiên liệu đầu vào cao nhất trong rổ hàng hóa tính CPI. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành Input - Output (I/O) kết hợp thống kê mô tả và so sánh định lượng là nhằm bóc tách chính xác mối quan hệ nhân quả giữa chi phí đầu vào của xăng dầu với mức tăng giá của từng ngành kinh tế, khắc phục triệt để các hạn chế của phương pháp định tính đơn thuần trong việc đo lường độ trễ và hiệu ứng tâm lý lan tỏa của giá bán lẻ xăng dầu lên chỉ số lạm phát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường xăng dầu Việt Nam có mức độ tập trung quyền lực thị trường rất cao, mang tính chất độc quyền nhóm khi 3 doanh nghiệp lớn nhất (Petrolimex, PV OIL và PETEC) nắm giữ tới hơn 90% thị phần phân phối nội địa. Sự mất cân đối về tiềm lực tài chính và hạ tầng kho cảng khiến các doanh nghiệp đầu mối nhỏ gặp khó khăn trong việc duy trì dự trữ lưu thông tối thiểu theo quy định.

Thứ hai, gánh nặng bù lỗ ngân sách trong giai đoạn trước năm 2008 đã tạo ra sự méo mó tài chính nghiêm trọng. Số tiền trợ cấp bù lỗ của Nhà nước tăng phi mã từ 1.000 tỷ đồng năm 2000 lên 15.700 tỷ đồng năm 2005 và vượt mốc 22.000 tỷ đồng vào năm 2008. Trong giai đoạn 2007 - 2008, các doanh nghiệp đầu mối phát sinh khoản lỗ hơn 4.000 tỷ đồng, buộc Bộ Tài chính phải tạm ứng 4.038,5 tỷ đồng để hỗ trợ vốn kinh doanh. Đến tháng 07/2009, doanh nghiệp mới chỉ hoàn trả được 38% số vốn tạm ứng, dư nợ tồn đọng phải xử lý tiếp tục ở mức khoảng 2.500 tỷ đồng.

Thứ ba, mức độ tổn thương do biến động giá xăng dầu phân hóa sâu sắc giữa các ngành sản xuất. Phân tích chi phí đầu vào cho thấy ngành giao thông đường thủy chịu áp lực lớn nhất với tỷ trọng xăng dầu chiếm 34,09% tổng chi phí (khiến giá cước tăng 9,14% khi giá xăng dầu tăng 26,8%), tiếp theo là ngành đánh bắt thủy sản với tỷ trọng xăng dầu chiếm 23,57% (khiến giá thành tăng 6,32%), giao thông hàng không chiếm 21,30% (giá cước tăng 5,71%) và giao thông đường bộ chiếm 19,85% (giá dịch vụ tăng 5,32%).

Thứ tư, tác động suy giảm mức sống không đồng đều giữa các tầng lớp dân cư. Chi tiêu cho nhiên liệu chiếm bình quân 3,48% tổng chi tiêu hộ gia đình, nhưng nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất (Nhóm 1) chịu mức suy giảm phúc lợi lên tới gần 2% do tỷ trọng chi tiêu cho nhiên liệu thiết yếu chiếm phần lớn thu nhập khả dụng, trong khi nhóm có thu nhập cao nhất (Nhóm 5) chịu tác động không đáng kể.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên của các hạn chế trong quản lý giá xăng dầu tại Việt Nam xuất phát từ sự bất cập trong quy trình vận hành của Nghị định 84/2009/NĐ-CP. Cơ chế điều hành giá vẫn còn mang nặng tính can thiệp hành chính khi độ trễ xét duyệt đăng ký giá kéo dài tối thiểu 3 ngày làm việc, khiến giá bán lẻ trong nước không theo kịp nhịp biến động của thị trường thế giới. Mức khống chế chi phí kinh doanh định mức 600 đồng/lít đối với dầu và 400 đồng/kg đối với mazut chưa phản ánh đúng chi phí lưu thông thực tế, đẩy doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ kéo dài. Quỹ bình ổn giá chưa phát huy được vai trò giảm sốc do thời điểm sử dụng không linh hoạt, có thời kỳ mức chênh lệch giữa giá cơ sở và giá bán lẻ lên tới 14% nhưng việc trích lập vẫn mang tính cưỡng chế.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ đường kép thể hiện độ phân kỳ giữa giá dầu thô WTI thế giới và giá bán lẻ xăng RON 92 trong nước giai đoạn 2007 - 2011, kết hợp cùng bảng ma trận hệ số kỹ thuật liên ngành I/O để minh họa rõ nét hiệu ứng dây chuyền lan tỏa lạm phát sang 8 nhóm ngành sản xuất. So sánh với các mô hình quốc tế cho thấy, trong khi Nhật Bản thống nhất cơ quan quản lý đầu mối tại Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) và kiểm soát chặt dự trữ lưu thông, thì Việt Nam lại tồn tại sự chồng chéo chức năng giữa Bộ Tài chính (quản lý giá, thuế) và Bộ Công Thương (quản lý cung cầu, cấp phép), dẫn đến những quyết định điều hành giá thiếu đồng bộ trong các tháng cao điểm năm 2011.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc bộ máy điều hành giá bằng việc thành lập một Cơ quan Quản lý Năng lượng tập trung trực thuộc Chính phủ trước năm 2013. Đơn vị này giữ vai trò đầu mối chuyên trách duy nhất thay thế sự phối hợp phân tán giữa Bộ Tài chính và Bộ Công Thương, qua đó cắt giảm 100% thời gian xử lý hồ sơ đăng ký giá từ 3 ngày xuống phản ứng tức thời trong vòng 24 giờ, giúp giá bán lẻ bám sát thị trường quốc tế.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế trích lập và giải ngân Quỹ bình ổn giá kết hợp điều hành thuế nhập khẩu linh hoạt trong khung 0% - 20%. Bộ Tài chính cần quy định mức trích lập quỹ dao động tự động từ 300 đến 500 đồng/lít dựa trên biến động giá dầu thế giới, đảm bảo giữ biên độ dao động giá bán lẻ trong nước không vượt quá 5% trong mỗi chu kỳ điều chỉnh 15 ngày, giảm thiểu các cú sốc tăng giá đột ngột trên 2.000 đồng/lít cho nền kinh tế.

Thứ ba, gia tăng năng lực tự chủ nguồn cung và nâng quy mô kho dự trữ quốc gia. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cần đẩy nhanh tiến độ nâng cấp công suất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và xúc tiến các dự án lọc hóa dầu mới, phấn đấu nâng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu nội địa lên mức 40% - 50% vào năm 2015 và đạt 60% vào năm 2020. Đồng thời, Nhà nước cần đầu tư hệ thống kho dự trữ xăng dầu chiến lược đạt mức bảo đảm năng lượng tối thiểu từ 60 đến 90 ngày tiêu thụ thực tế.

Thứ tư, triển khai ứng dụng các công cụ tài chính phái sinh để phòng hộ rủi ro giá. Các doanh nghiệp đầu mối lớn như Petrolimex, PV OIL cần thiết lập phòng quản trị rủi ro chuyên trách, áp dụng các hợp đồng kỳ hạn (forwards), hợp đồng tương lai (futures) và quyền chọn (options) trên các sàn giao dịch hàng hóa quốc tế. Mục tiêu đặt ra là thực hiện phòng hộ giá (hedging) cho tối thiểu 20% - 30% tổng khối lượng xăng dầu nhập khẩu hàng năm trong giai đoạn 2012 - 2015, nhằm cố định biên lợi nhuận kinh doanh và triệt tiêu các khoản thua lỗ tỷ giá, giá dầu lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách vĩ mô, bao gồm Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính), Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) và Ban Kinh tế Trung ương. Luận văn cung cấp khung phân tích định lượng chi tiết về cơ chế truyền dẫn giá và công thức định giá cơ sở, làm tài liệu tham khảo trực tiếp để sửa đổi Nghị định 84/2009/NĐ-CP và xây dựng các kịch bản kiểm soát lạm phát cho mục tiêu giữ vững CPI dưới 10%.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản trị tài chính tại các đơn vị kinh doanh xăng dầu đầu mối, tổng đại lý và hệ thống phân phối bán lẻ. Công trình cung cấp giải pháp thiết thực về quy trình nhận diện ma trận rủi ro chuỗi cung ứng và kỹ thuật sử dụng công cụ phái sinh, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa kế hoạch luân chuyển tồn kho và bảo toàn nguồn vốn lưu động quy mô lớn từ 1.000 đến 5.000 tỷ đồng.

Nhóm hiệp hội doanh nghiệp thuộc các ngành sử dụng nhiều nhiên liệu, đặc biệt là Hiệp hội Vận tải Ô tô, Hiệp hội Vận tải Biển và Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP). Báo cáo phân tích tỷ trọng chi phí nhiên liệu chiếm từ 19,85% đến 34,09% giá thành cung cấp cơ sở định lượng để các hội viên tính toán lại điểm hòa vốn, đàm phán hợp đồng vận chuyển dài hạn và kiến nghị các gói hỗ trợ nhiên liệu phù hợp.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế Phát triển và Quản trị Kinh doanh. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về lý thuyết điều tiết giá cả, chuỗi số liệu thực nghiệm kinh tế năng lượng giai đoạn 1970 - 2011 và phương pháp lượng hóa tác động liên ngành Input - Output.

Câu hỏi thường gặp

Việt Nam có dầu mỏ nhưng tại sao giá bán lẻ xăng dầu trong nước vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào giá thế giới? Việt Nam chủ yếu khai thác và xuất khẩu dầu thô, trong khi các nhà máy lọc dầu trong nước ở giai đoạn nghiên cứu mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu thực tế. Do phải nhập khẩu gần 100% chế phẩm xăng dầu thành phẩm theo giá thị trường Singapore, mọi biến động tăng giá từ 50,48 USD/thùng lên 145 USD/thùng của dầu thô thế giới đều lập tức phản ánh trực tiếp vào chi phí đầu vào của các doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam.

Mức tăng giá xăng dầu 26,8% làm thay đổi chỉ số lạm phát CPI như thế nào? Theo mô hình phân tích liên ngành của luận văn, mức tăng 26,8% của giá xăng dầu làm CPI tổng thể tăng thêm 1,19%. Trong đó, hiệu ứng tác động trực tiếp thông qua nhóm hàng xăng dầu trong rổ hàng hóa đóng góp 0,69%, còn hiệu ứng gián tiếp truyền dẫn qua việc tăng chi phí vận tải, đánh bắt thủy sản và sản xuất công nghiệp đóng góp 0,49%.

Tại sao Nhà nước phải bãi bỏ cơ chế bù lỗ xăng dầu từ ngày 16/09/2008? Cơ chế bù lỗ đã tạo gánh nặng ngân sách quá lớn khi số tiền chi trả tăng từ 1.000 tỷ đồng năm 2000 lên hơn 22.000 tỷ đồng năm 2008, vượt quá khả năng cân đối tài khóa. Hơn nữa, việc bù giá làm sai lệch tín hiệu thị trường, triệt tiêu động lực tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp và thúc đẩy vấn nạn buôn lậu xăng dầu qua biên giới sang các nước lân cận.

Những ngành sản xuất nào chịu tổn thương nặng nề nhất khi giá xăng dầu tăng cao? Ngành giao thông đường thủy và khai thác đánh bắt hải sản chịu thiệt hại nặng nhất do xăng dầu chiếm tỷ trọng lần lượt là 34,09% và 23,57% trong tổng chi phí sản xuất. Khi giá xăng dầu tăng 26,8%, giá thành vận tải thủy tăng 9,14% và chi phí đánh bắt hải sản tăng 6,32%, khiến hàng loạt đội tàu đánh bắt xa bờ phải ngừng hoạt động do không bù đắp được chi phí dầu.

Công cụ phái sinh tài chính mang lại lợi ích cụ thể gì cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu? Công cụ phái sinh giúp doanh nghiệp khóa chặt giá mua đầu vào thông qua các hợp đồng tương lai hoặc hợp đồng quyền chọn trên các sàn quốc tế. Nghiệp vụ này giúp loại bỏ rủi ro thua lỗ nặng khi giá dầu thế giới biến động bất thường, bảo toàn nguồn vốn kinh doanh hàng nghìn tỷ đồng và ổn định giá thành phân phối lẻ ra thị trường nội địa.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa bức tranh biến động phức tạp của giá dầu thô thế giới giai đoạn 1970 - 2011 với các mốc giá lịch sử từ 10 USD/thùng lên đỉnh 145 USD/thùng và tác động đa chiều đến kinh tế Việt Nam.
  • Luận văn chỉ rõ quá trình chuyển dịch thể chế quản lý giá từ bao cấp bù lỗ quy mô 22.000 tỷ đồng sang cơ chế giá thị trường có định hướng nhà nước theo Nghị định 84/2009/NĐ-CP.
  • Nghiên cứu đã định lượng hóa mức độ lan tỏa của việc tăng 26,8% giá xăng dầu khiến CPI tăng 1,19%, đồng thời bóc tách mức độ tổn thương của 8 ngành sản xuất then chốt có chi phí nhiên liệu chiếm tới 34,09%.
  • Hệ thống giải pháp khuyến nghị tập trung vào việc thành lập một Cơ quan Quản lý Năng lượng tập trung duy nhất, vận hành linh hoạt Quỹ bình ổn giá và nâng mức tự chủ lọc dầu nội địa lên 60% vào năm 2020.
  • Đề xuất ứng dụng chiến lược phòng hộ rủi ro bằng công cụ phái sinh cho 20% - 30% sản lượng nhập khẩu nhằm nâng cao năng lực tài chính cho các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã kết hợp thành công giữa lý thuyết điều tiết giá hiện đại với mô hình phân tích liên ngành thực nghiệm, cung cấp giải pháp căn cơ để giải quyết bài toán bình ổn thị trường xăng dầu tại Việt Nam. Trong lộ trình 2012 - 2015, việc sớm hoàn thiện thể chế quản lý giá và đầu tư hạ tầng dự trữ năng lượng là yêu cầu cấp bách. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng nghiên cứu, áp dụng đồng bộ các giải pháp này để đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.