Tổng quan nghiên cứu

Cho thuê tài chính là kênh dẫn vốn trung và dài hạn đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên bình diện quốc tế, theo báo cáo của White Clarke Group, quy mô tài trợ qua hình thức cho thuê tài chính năm 2010 đã đạt 616,8 tỷ USD, chiếm khoảng 15% tổng các nguồn tín dụng đầu tư mua sắm tài sản cố định tư nhân tại các quốc gia công nghiệp phát triển. Tại Việt Nam, hệ thống gồm 12 công ty cho thuê tài chính được cấp phép thành lập đã bước đầu tạo lập kênh cung ứng vốn bổ trợ hiệu quả bên cạnh hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2008 - 2012, hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tổng dư nợ toàn thị trường suy giảm từ 20.849,20 tỷ đồng năm 2009 xuống còn 17.021,00 tỷ đồng vào cuối năm 2012, tương đương mức sụt giảm 18,36%. Sự suy giảm quy mô đi kèm với tỷ lệ nợ xấu gia tăng đột biến, sản phẩm tài trợ đơn điệu và nhận thức thị trường còn hạn chế đã đặt toàn ngành trước nguy cơ thu hẹp thị phần tín dụng.

Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012 nhằm nhận diện các rào cản nội tại và môi trường pháp lý. Mục tiêu trọng tâm là đề xuất hệ thống giải pháp tài chính, quản trị rủi ro và hoàn thiện chính sách nhằm tái cấu trúc ngành, đưa cho thuê tài chính trở thành công cụ hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17 về Thuê tài sản, trong đó xác lập 4 tiêu chí cốt lõi để nhận diện giao dịch cho thuê tài chính, bao gồm: chuyển giao quyền sở hữu khi kết thúc hợp đồng, quyền chọn mua tài sản với giá ưu đãi, thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, và hiện giá của các khoản tiền thuê tối thiểu tương đương giá trị hợp lý của tài sản. Tại Việt Nam, các quy định tại Nghị định 65/2005/NĐ-CP và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã pháp điển hóa khái niệm này thành một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua việc tài trợ động sản.

Mô hình hoạt động được phân tích dựa trên cấu trúc giao dịch hai bên và giao dịch ba bên, trong đó mô hình ba bên chiếm hơn 80% thị phần thực tế trên toàn cầu nhờ tối ưu hóa vòng quay vốn và phân bổ rủi ro kỹ thuật cho nhà cung ứng. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng và khung pháp lý an toàn vốn theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN, bao gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9%, giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có và tỷ lệ cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động ở mức trần 85%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố chính thức từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam và báo cáo tài chính của 8 công ty hội viên chủ lực đại diện cho hơn 90% tổng dư nợ toàn ngành trong giai đoạn 2008 - 2012.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 8 công ty thành viên trong tổng số 12 tổ chức tín dụng phi ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập toàn diện các tổ chức có quy mô vốn và thị phần chi phối, phản ánh trung thực bức tranh của cả khối công ty trực thuộc ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và doanh nghiệp nhà nước.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả định lượng kết hợp phân tích tỷ số tài chính gồm tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ nợ xấu và hệ số an toàn vốn. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm bóc tách định lượng chính xác cơ cấu danh mục tài trợ, mức độ tập trung rủi ro theo ngành và đánh giá mức độ phụ thuộc vốn. Ngoài ra, phương pháp tổng hợp so sánh được triển khai để đối chiếu mô hình phát triển thành công tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonesia, từ đó rút ra bài học thích ứng cho thị trường Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tín dụng của hệ thống cho thuê tài chính liên tục suy giảm. Tổng dư nợ toàn ngành từ đỉnh cao 20.849,20 tỷ đồng năm 2009 đã sụt giảm 18,36% xuống mức 17.021,00 tỷ đồng vào năm 2012. Trong nhóm 8 công ty thành viên Hiệp hội với tổng dư nợ 15.540 tỷ đồng năm 2012, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng áp đảo 93,16% (tương ứng 14.477 tỷ đồng), trong khi khu vực quốc doanh chỉ chiếm 6,84% (đạt 1.063 tỷ đồng).

Thứ hai, cơ cấu danh mục tài sản cho thuê lệch pha nghiêm trọng, tích tụ rủi ro vào các ngành thâm dụng vốn. Tài sản là tàu thuyền các loại chiếm tới 7.433 tỷ đồng, tương đương 47,83% tổng dư nợ năm 2012 của các công ty hội viên. Trong khi đó, các nhóm tài sản phục vụ sản xuất thiết yếu lại chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn: máy thi công xây dựng và khai khoáng chiếm 13,38% (2.080 tỷ đồng), ô tô các loại chiếm 14,69% (2.283 tỷ đồng), dây chuyền sản xuất chiếm 12,40% (1.927 tỷ đồng), và thiết bị y tế chỉ chiếm 0,64% (99 tỷ đồng).

Thứ ba, sự phân hóa gay gắt về chất lượng tài sản và tỷ lệ nợ xấu giữa các nhóm công ty. Nợ xấu bùng phát nặng nề tại các đơn vị có vốn nhà nước như Vinashin Leasing với tỷ lệ nợ xấu 98%, ALC II lên tới 96% (trong đó nợ nhóm 5 chiếm 95%) và ALC I ghi nhận 68% (nợ nhóm 5 chiếm 56%). Ngược lại, khối công ty trực thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần kiểm soát nợ xấu rất tốt: ACB Leasing duy trì tỷ lệ 0%, Sacombank Leasing ở mức 1% và Vietinbank Leasing đạt 3%.

Thứ tư, nguồn vốn hoạt động phụ thuộc nặng nề vào ngân hàng mẹ. Tổng vốn huy động của 8 công ty năm 2012 đạt 13.406 tỷ đồng thì nguồn vốn vay từ ngân hàng chủ sở hữu chiếm tới 8.979 tỷ đồng, tương đương 66,98%, khiến chi phí vốn bị đẩy lên cao và khả năng cạnh tranh lãi suất suy giảm.

Thảo luận kết quả

Khi mô phỏng qua biểu đồ cơ cấu tài sản và bảng tổng hợp nợ xấu, dữ liệu phản ánh rõ nét sự mất cân đối cấu trúc tín dụng. Việc dồn hơn 47% tổng vốn vào lĩnh vực vận tải biển trong giai đoạn ngành hàng hải toàn cầu đóng băng đã trực tiếp dẫn đến làn sóng mất thanh khoản và mất vốn chủ sở hữu tại ALC II (âm 8.740 tỷ đồng) và Vinashin Leasing (âm 1.116 tỷ đồng).

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ ba rào cản lớn:

  1. Rào cản thể chế: Nghị định 65/2005/NĐ-CP chưa trao quyền thu hồi tài sản ngay lập tức cho bên cho thuê khi khách hàng vi phạm hợp đồng, khiến quá trình xử lý tài sản kéo dài qua nhiều cấp tòa án, làm tài sản hư hỏng và giảm giá trị bình quân trên 40%.
  2. Rào cản thuế và kế toán: Bất cập trong việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và quy định trích lập dự phòng theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nhân hệ số 30% giá trị tài sản bảo đảm đã tạo gánh nặng chi phí dự phòng quá lớn cho các công ty.
  3. Rào cản quản trị nội bộ: Công tác thẩm định phương án kinh doanh còn lỏng lẻo, nặng tính hình thức và phụ thuộc vào tài trợ vốn của ngân hàng mẹ thay vì chủ động phát hành trái phiếu dài hạn.

So sánh với bài học từ Hàn Quốc, nơi áp dụng Luật khuyến khích ngành cho thuê quy định tối thiểu 50% tổng mức cấp tín dụng phải dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và 40% cho máy móc sản xuất nội địa, có thể thấy các công ty Việt Nam đã đi chệch khỏi sứ mệnh cốt lõi là hỗ trợ đổi mới thiết bị quy mô vừa và nhỏ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc danh mục tài sản và xử lý dứt điểm nợ xấu tồn đọng. Các công ty cho thuê tài chính cần phối hợp cùng Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để bán và xử lý nợ xấu, đặt mục tiêu kéo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống dưới mức 5% trong giai đoạn 2014 - 2016. Đồng thời, chủ động tái cơ cấu danh mục tài sản theo hướng giảm tỷ trọng cho thuê tàu thuyền xuống dưới 20% và tăng tỷ trọng tài trợ máy móc công nghiệp, thiết bị y tế và dây chuyền chế biến lên trên 45% tổng dư nợ.

Thứ hai, đa dạng hóa cấu trúc nguồn vốn và gia tăng năng lực tài chính. Ban điều hành các công ty cần xây dựng phương án phát hành trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến 5 năm, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ phụ thuộc vào nguồn vốn vay của ngân hàng mẹ từ mức 66,98% hiện tại xuống dưới 40% vào năm 2017. Các ngân hàng thương mại chủ sở hữu cần tiến hành tăng vốn điều lệ để đảm bảo các công ty con đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% theo quy định.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình thẩm định tín dụng và phát triển nghiệp vụ bổ trợ. Các công ty cần áp dụng mô hình chấm điểm tín dụng chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đẩy mạnh sản phẩm mua và cho thuê lại (sale and leaseback), cho thuê vận hành kết hợp triển khai dịch vụ cho vay bổ sung vốn lưu động đối với các khách hàng đang thuê tài sản nhằm gia tăng tiện ích tài chính trọn gói.

Thứ tư, hoàn thiện hành lang pháp lý từ phía cơ quan quản lý. Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính khẩn trương ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi quy định khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với tài sản cho thuê, và thiết lập cơ chế pháp lý đặc thù cho phép bên cho thuê được quyền thu hồi trực tiếp tài sản trong vòng 30 ngày kể từ khi bên thuê vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà không bắt buộc phải chờ bản án dân sự.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc và chuyên viên thẩm định tại các công ty cho thuê tài chính. Luận văn cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng và các mô hình quản trị rủi ro danh mục, giúp các nhà điều hành xây dựng chiến lược kinh doanh an toàn, phân bổ lại cơ cấu tài sản và tối ưu hóa quy trình thu hồi nợ.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp. Công trình là tài liệu tham khảo thực tiễn giá trị để sửa đổi các văn bản dưới luật, xây dựng cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng, quy chuẩn trích lập dự phòng và hoàn thiện hành lang bảo vệ quyền sở hữu tài sản cho thuê.

Nhóm thứ ba là Ban giám đốc và Giám đốc tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm vững các phương thức tiếp cận nguồn vốn trung dài hạn mà không cần tài sản thế chấp truyền thống, tận dụng tối đa lợi ích từ việc khấu hao nhanh và tối ưu dòng tiền hoạt động.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đóng vai trò là tài liệu học thuật hoàn chỉnh, kết hợp sâu sắc giữa lý thuyết tín dụng phi ngân hàng quốc tế và thực tiễn vận hành của hệ thống tài chính Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Cho thuê tài chính khác biệt như thế nào so với vay vốn ngân hàng thương mại?

Trong cho vay ngân hàng, tổ chức tín dụng tài trợ bằng tiền và yêu cầu khách hàng có tài sản thế chấp độc lập. Trong cho thuê tài chính, bên cho thuê trực tiếp mua và giao hiện vật máy móc, thiết bị theo chỉ định của bên thuê, đồng thời giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng mà không bắt buộc bên thuê phải có tài sản bảo đảm bổ sung.

Tại sao doanh nghiệp nhỏ và vừa nên ưu tiên kênh cho thuê tài chính?

Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bị hạn chế về lịch sử tín dụng và tài sản bảo đảm. Cho thuê tài chính tài trợ tới 100% giá trị thiết bị, chi phí thuê được tính vào chi phí hợp lý để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp tránh rủi ro hao mòn vô hình do công nghệ lạc hậu.

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ nợ xấu một số công ty giai đoạn 2008 - 2012 lên tới trên 90% là gì?

Tỷ lệ nợ xấu tăng vọt tại ALC II (96%) và Vinashin Leasing (98%) chủ yếu do sự suy thoái của ngành vận tải biển toàn cầu, kết hợp với việc tập trung dư nợ quá lớn vào nhóm tàu thuyền (chiếm gần 48% tổng dư nợ) và công tác thẩm định nội bộ thiếu chặt chẽ trong quản lý dòng tiền dự án.

Quy định trích lập dự phòng rủi ro cho công ty cho thuê tài chính có điểm gì bất cập?

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, giá trị tài sản cho thuê chỉ được khấu trừ tối đa 30% khi tính toán số tiền trích lập dự phòng cụ thể. Quy định này đánh đồng tài sản cho thuê (thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê) với các tài sản thế chấp khác, làm tăng chi phí trích lập dự phòng của công ty.

Khung pháp lý hiện nay cần sửa đổi điểm mấu chốt nào để thúc đẩy ngành phát triển?

Điểm mấu chốt là cần công nhận quyền thu hồi tài sản mặc nhiên của bên cho thuê khi khách hàng vi phạm hợp đồng mà không cần chờ phán quyết kéo dài từ tòa án, đồng thời tháo gỡ triệt để vướng mắc về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với tài sản cho thuê.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cho thuê tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 17 và khung pháp lý của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam.
  • Phân tích thực chứng giai đoạn 2008 - 2012 cho thấy quy mô tín dụng toàn ngành giảm 18,36%, chất lượng tín dụng suy giảm nghiêm trọng với tỷ lệ nợ xấu tập trung ở khối tàu thuyền vận tải biển chiếm tới 47,83% tổng dư nợ.
  • Nhận diện chính xác các nút thắt then chốt về sự phụ thuộc tới 66,98% vào nguồn vốn ngân hàng mẹ, rào cản thu hồi tài sản và các vướng mắc trong chính sách thuế giá trị gia tăng.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp 4 trọng tâm giai đoạn 2014 - 2017: xử lý nợ xấu qua VAMC, đa dạng hóa nguồn vốn qua phát hành trái phiếu dài hạn, chuyển dịch danh mục sang máy móc sản xuất và hoàn thiện thể chế pháp lý bảo vệ quyền chủ sở hữu.
  • Các tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các giải pháp tái cấu trúc nhằm khơi thông dòng vốn trung dài hạn, thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ cho nền kinh tế.