chương 1 giới thiệu về nghiên cứu trên đây, chương 2 tập trung đưa ra các khung phân tích hướng đến tính-bền vững của nợ. Trong chương 3, luận văn tiến hành phân tích tính-bền-vững theo mô hình định lượng kết hợp định tính, từ đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tính-bền-vững nợ công và những rủi ro trong việc nhận định tính bền vững cũng như đưa ra các dự báo tương lai. Cuối cùng, chương 4 đưa ra các kết luận và gợi ý chính-sách dựa trên các phân tích ở chương 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm nợ công và sự khác biệt trong định nghĩa của Việt-Nam Xuất phát từ sự khác biệt trong khái niệm khu vực công nên cách xác định nợ-công của các cơ quan quản lý nợ-công và tổ chức kinh tế - tài chính trên thế giới cũng khác nhau. Nhìn chung có thể chia các khái niệm này thành hai nhóm: nợ-công theo nghĩa hẹp và nợ-công theo nghĩa rộng.
Theo Điều 1 Luật quản lý nợ-công (2009), Việt-Nam đã định nghĩa nợ-công bao gồm nợ CP, nợ được CP bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Đây được xem là nợ-công theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, nợ-công ngoài ba thành phần trên còn bao gồm cả nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các tổ chức trực thuộc CP (bao gồm DN nhà nước). Đây là khái niệm được Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính (DMFAS) của UNCTAD sử dụng.
Nghĩa vụ nợ phát sinh là yếu tố khác biệt quan trọng nhất giữa hai cách phân loại trên. Đứng từ góc độ DN, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ, khoản mục DNNN tự vay và tự trả sẽ không được tính vào nợ-công theo định nghĩa của Việt-Nam. Điều này là bất hợp lý bởi NN là đơn vị đóng góp 100% vốn hoặc nắm cổ phần, vốn góp chi phối tại các đơn vị này. Do vậy, khoản nợ của các DNNN cũng thể hiện phần nào đó NN đi vay (một phần hoặc toàn bộ).
Thực tế, tại Việt-Nam khu vực quốc doanh rất lớn, mặc dù theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP, các DNNN 100% vốn NN được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên nhưng khi những DN này gặp khó khăn trả nợ, đứng trên bờ vực phá sản thì NN có thể sử dụng NS và các biện pháp khác để giải cứu.5 Khi ấy, gánh nặng nợ của DNNN đã được chuyển thành trách nhiệm nợ của khu vực công và-tạo-áp-lực-lên-gánh-nặng-NS. Do có sự khác biệt trong việc tính toán nợ công và chưa có một chuẩn mực chung để đánh giá nên con số mà Bộ Tài chính công bố khác xa so với một số nghiên cứu gần đây. Trong 5 Trường-hợp-điển-hình-là-Vinashin,-CP-đã-đứng-ra-thực-hiện-các-biện-pháp-hỗ-trợ-trả-nợ-cho-các-khoản- nợ-đến-hạn-mà-Vinashin-không-có-khả-năng-chi-trả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa nợ-công theo nghĩa hẹp để phân tích và gọi chung là “Nợ-chính-phủ”.
Tính bền vững của nợ công Mục tiêu đánh giá tính-bền-vững của nợ-công nhằm trả lời một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: khi nào nợ một quốc gia trở nên quá lớn dẫn đến mất khả năng trả nợ? Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đưa ra định nghĩa về tính-bền-vững của nợ như sau: “một khoản nợ được xem là bền-vững nếu hội đủ các điều kiện về khả năng thanh toán mà không có một sự điều chỉnh lớn […] do chi phí tài trợ”.6 Khả năng thanh toán nợ được thực hiện khi thặng-dư ngân sách cơ bản (NSCB) trong tương lai đủ lớn để trang trải khoản trả lãi và nợ gốc. Về mặt kỹ thuật, khả năng thanh toán nợ đòi hỏi giá trị hiện tại của các khoản nợ cộng với giá trị hiện tại của các khoản chi tiêu công không được vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thu NS. Hai tiêu chuẩn trong định nghĩa của IMF về sự phát triển bền-vững đưa ra yêu cầu khắt khe hơn so với khả năng thanh toán. Điều kiện đầu tiên là loại trừ “sự điều chỉnh lớn” trong cán cân NSCB.
Điều này có thể đề cập đến sự cắt giảm mạnh chi tiêu hoặc gia tăng nguồn thu nhanh chóng. Do vậy, định nghĩa này bao hàm cả ý nghĩa về giới hạn khả năng thanh khoản của một quốc gia. Điều kiện thứ hai đề cập đến “chi phí tài trợ”. Chi phí tài trợ luôn thay đổi theo thời gian và khó dự đoán trước.
Đặc biệt, nó có thể tăng lên khi bùng phát nợ và có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn. Kết quả là một khoản nợ có thể bền-vững trong hôm nay nhưng có thể ngày mai không bền-vững và ngược lại. Tuy nhiên, định nghĩa về tính bền-vững-nợ-của-IMF-có-sự-mơ-hồ-và-khó-tiếp-cận-đánh-giá. Như vậy, có thể thấy vấn đề về nợ-công và tính-bền-vững của nợ-công đã được thảo luận từ rất lâu, nhưng đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm về tính-bền-vững của nợ công được xác định rõ ràng.
Mặc dù, các nhà nghiên cứu có thể thống nhất ý kiến về tính trạng nợ-công tuyệt đối bền-vững và tuyệt đối không bền-vững, song rất khó để đưa ra chính xác khi nào ngưỡng bền-vững bị phá vỡ. Điều này không có nghĩa là không có phương pháp đánh giá tính-bền-vững nợ-công một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tựu trung lại, có ba cách tiếp cận đánh giá tính-bền-vững nợ-công: từ góc độ lý thuyết, định lượng và thực tiễn. 6 IMF (2002) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Trong luận văn này, để trả lời cho câu hỏi thứ nhất về tính-bền-vững nợ-công, chúng tôi tiến hành đánh giá dựa trên cách tiếp cận định lượng (kiểm định tính dừng) và thực tiễn (so sánh với các-ngưỡng-nợ-được-đề-ra-của-IMF-và-WB-cũng-như-các-phương-pháp-bổ-sung-khác).
Đánh giá vị thế nợ công theo cách tiếp cận định lượng 2. Kiểm tra tính dừng của chuỗi số liệu nợ công Nghiên cứu thực nghiệm trong kinh tế vĩ mô chủ yếu dựa vào chuỗi thời gian, vì các chỉ số kinh tế luôn biến động theo xu hướng. Theo xu hướng đó, chuỗi dữ liệu thời gian có thể cố định hoặc không. Chuỗi số liệu thời gian cố định (tính dừng) có thuộc tính giá trị trung bình, phương sai, giữa hai giá trị quan sát bất kỳ không có tương quan với nhau và không có biến động định kỳ.
Do đó, nếu chuỗi thời gian của nợ-công không dừng, nghĩa là tỷ-lệ nợ thực/GDP liên tục tăng và vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thặng-dư NS trong tương lai thì nợ-công sẽ không bền-vững. Trên thực tế, có khá nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các kiểm tra về tính dừng trong phân tích. (1991) đã dựa trên bộ số liệu của 18 nước trong khối OECD với chuỗi dữ liệu thời gian từ 1960 – 1989. Các tác giả đã phát hiện có sự khác biệt về sự phát triển bền-vững của các quốc gia trong dài hạn.
Các nước lớn (Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh và Canada) không gặp trở ngại về khả năng thanh toán. Trong khi đó, một số nước nhỏ (Bỉ, Ireland, Hà Lan và Hy Lạp) lại gặp phải vấn đề phát triển bền-vững. Điểm chung của-các-quốc-gia-này-là-có-tỷ-lệ-nợ-công/GDP-lớn-(trên-100%-ở-Bỉ-và-Ireland). Bên cạnh đó, Anca Ruxandra (2011) đã sử dụng số liệu hàng năm của 14 nước Châu Âu trong giai đoạn 1970 – 2012 để chỉ ra tỷ-lệ-nợ-công của một số nước vượt xa ngưỡng nợ của Hiệp ước Maastricht đề ra (ngoại trừ Đan Mạch, Phần Lan, Thụy điển).
Tình trạng này trở nên tồi tệ hơn khi khủng-hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu xảy ra, tỷ-lệ-nợ-công của các nước có xu hướng tăng nhanh từ năm 2007, một trong số đó đạt đến mức báo động. Các nước như Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan và Thụy Điển là những nước không có nguy cơ đối mặt với rủi ro thanh khoản trong tương lai. Vị thế tài chính bền-vững của họ dựa trên một tỷ-lệ-nợ-công không vượt quá ngưỡng và thặng-dư NSCB đủ lớn nhằm đảm bảo cho sự ổn định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kiểm tra tính bền vững của chính sách tài khóa thông qua điều kiện giới hạn NS liên thời gian 2.
Lý thuyết về ràng buộc NS của CP và giới hạn NS liên thời gian Ràng buộc NS CP đặt ra yêu cầu chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của CP cộng với chi phí trả lãi và nợ gốc hiện tại tương đương với thu nhập thuế hiện tại cộng với nợ phát hành mới. Điều-kiện-này-được-minh-họa-như-sau: Gt (1 it ) Bt 1 Tt Bt hay Bt (1 it ) Bt 1 Dt (1) Với: it-là-lãi-suất-trái-phiếu-Chính-phủ-(TPCP)-giai-đoạn-t-(it >0) Gt-là-chi-tiêu-CP-cho-hàng-hóa-và-dịch-vụ-giai-đoạn-t Tt-là-thu-thuế-giai-đoạn-t Bt-là-nợ-CP-phát-hành-giai-đoạn-t Dt-=-Gt---Tt-là-thâm-hụt-NS-giai-đoạn-t Phương-trình-(1)-có-thể-được-viết-lại-dưới dạng tỷ-lệ của các biến số so với GDP như sau: 1 it dt bt 1 bt (2) 1 yt Với: gt,-tt,-bt-lần-lượt-là-tỷ-lệ-chi-tiêu-CP,-thu-thuế-và-nợ-mới-phát-hành-theo-GDP dt-=-gt---tt-là-tỷ-lệ-thâm-hụt-NSCB yt-là-tốc-độ-tăng-trưởng-GDP Dựa vào phương trình (2), chúng ta có thể nhận thấy: (i) vị thế nợ-công của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, điển hình là tỷ-lệ thâm-hụt NS, lãi suất TPCP và tốc độ tăng trưởng GDP. (ii) nợ-công sẽ tăng liên tục (tính theo tỷ-lệ %GDP) khi quốc gia đang thâm-hụt NS cộng với tốc độ tăng trưởng kinh tế lại thấp hơn lãi suất TPCP. Khi đó, chúng-ta-có-thể-thấy-rằng-nợ-công-sẽ-không-bền-vững.
Ngoài ra, chúng ta dựa vào điều kiện “no ponzi condition”, nghĩa là CP không thể phát hành nợ mới để trang trải khoản trả lãi và gốc của nợ cũ một cách vô thời hạn, để xem xét tính-bền-vững của NS và nợ-công. Kết hợp phương trình cân bằng NS (1) và “no ponzi condition”, chúng-ta-đi-đến-ràng-buộc-NS-liên-thời-gian LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Bt 1 E[ j 1 Dt j ] E[lim j 1 Bt j ] (3) j j 0 Trong-đó- 1 /(1 r ) -là-nhân-tố-chiết-khấu. Điều kiện ràng buộc NS đặt ra yêu cầu giá trị hiện tại của thặng-dư NSCB phải lớn hơn khoản thâm-hụt NSCB hiện tại, nhằm trang trải cho nợ-công ban đầu. Phương trình (3) chỉ ra rằng nợ ban đầu sẽ bằng với giá trị hiện tại của thặng-dư NSCB khi và chỉ khi giá trị hiện tại-của-các-khoản-nợ-trong-tương-lai-hội-tụ-về-0.
lim j 1 Bt j 0 j Nếu điều kiện này được đáp ứng, giá trị hiện tại của thặng-dư NS phải lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của nợ-công ban đầu. Hay nói cách khác, nợ-công hôm nay phải được bảo đảm-bằng-sự-thặng-dư-trong-tương-lai-của-NS. Bt 1 E[ j 1 Dt j ] (4) j 0 Tuy nhiên, điều kiện ràng buộc này sẽ khó thực thi trong thực tế. Theo nguyên lý này, nợ- công sẽ luôn bền-vững nếu tốc độ tăng nợ-công luôn nhỏ hơn lãi suất thực của các khoản nợ-công mới phát hành, bất kể kết cấu và mức nợ ban đầu ra sao.
Bên cạnh đó, cam kết đạt thặng-dư NS trong tương lai thường thiếu tin cậy. Để giảm thâm-hụt NS trong tương lai, CP có hai lựa chọn khả dĩ là giảm chi tiêu công hoặc tăng thu NS.