Chương 1 nhằm giới thiệu về luận văn bao gồm bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi chính sách, đồng thời nêu lên đối tượng, phạm vi cũng như khái quát về phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày một số khái niệm quan trọng, cơ sở lý thuyết và các giả thuyết cho vấn đề nghiên cứu. Nội dung của chương 3 trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu mà luận văn sẽ thực hiện. Chương 4 thực hiện việc phân tích các dữ liệu thu thập được để chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết đã nêu trong chương 2.
Chương 5 là phần kết luận của luận văn và từ đó nêu lên những kiến nghị chính sách từ những dữ liệu phân tích trong chương 4. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Nội dung của Chương 2 trình bày một số khái niệm quan trọng liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở những nghiên cứu đi trước liên quan, mô hình các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quy mô lao động trung bình của DNNVV được xây dựng nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm và phân loại Các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa phân theo quy mô doanh thu, số lao động hoặc nguồn vốn được gọi chung là DNNVV. Theo Bouazza, Ardjouman và Abada (2015), không có tiêu chuẩn cố định cho những doanh nghiệp nào là DNNVV.
Điều này phụ thuộc vào quan điểm, tiêu chí xác định từng cá nhân cũng như tổ chức.1: Định nghĩa DNNVV của các vùng, quốc gia khác nhau Vùng hoặc quốc gia Số lao động tối đa Doanh thu tối đa Giá trị tài sản tối đa Liên minh Châu Âu 10 – 250 40 triệu Euro - Ngân hàng thế giới 300 15 triệu Đôla 15 triệu Đôla Quỹ tiền tệ quốc tế 100 3 triệu Đôla - Ngân hàng phát triển châu Phi 50 - - Ngân hàng phát triển châu Á Không có định nghĩa cụ thể. Sử dụng định nghĩa của nhiều chính phủ khác nhau. UNDP 200 - - OECD 20 – 500 - - Algeria 10 – 250 < 20 triệu Euro - Trung Quốc < 2000 300 triệu NDT 400 triệu NDT Nguồn: Lấy từ Bouazza, Ardjouman và Abada (2015), Bảng 1, trang 112. Đối với Việt Nam, quan điểm về DNNVV được Chính phủ nêu rõ trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
Tuy nhiên, mỗi khu vực sản xuất lại có tiêu chí riêng, thể hiện ở bảng sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Phân loại DNNVV theo quy định của Chính phủ Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Khu vực Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng Từ trên Từ trên Từ trên nghiệp và thủy sản trở xuống trở xuống 10 người 20 tỷ đồng đến 200 người đến đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên Từ trên Từ trên xây dựng trở xuống trở xuống 10 người 20 tỷ đồng đến 200 người đến đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên Từ trên Từ trên dịch vụ trở xuống trở xuống 10 người 10 tỷ đồng đến 50 người đến đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Lấy từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP năm 2009, trang 2.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế là quan điểm đã được khẳng định trong nhiều báo cáo và nghiên cứu.
Thứ nhất, với số lượng rất lớn, DNNVV đóng góp quan trọng vào tổng sản lượng và tạo ra nhiều việc làm. Theo Tổng cục Thống kê (2013), năm 2011, số lượng DNNVV chiếm tỷ lệ 97,6% tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Số lượng lao động làm việc trong các DNNVV vào cuối năm 2011 là 5,06 triệu người (cao hơn 2,07 lần năm 2006), trong đó khu vực ngoài nhà nước có tỷ lệ thu hút nhiều lao động nhất. Trong khi khu vực FDI có mức tăng việc làm thấp hơn, và khu vực nhà nước lại có sự sụt giảm.
Đối với ngân sách quốc gia, Tổng cục Thống kê cho biết, năm 2006, loại hình DNNVV đóng góp 45 ngàn tỷ đồng và năm 2011 đã tăng lên tới 177,8 ngàn tỷ đồng. Thứ hai, các DNNVV đóng vai trò trụ cột của kinh tế địa phương. Nếu như các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn, tổng công ty được thành lập và hoạt động tại các trung tâm của các thành phố lớn thì các DNNVV lại phân bố khắp mọi nơi. Từ đó, khai thác và phát huy một cách tối đa các nguồn lực tại chỗ.
Một đặc điểm minh họa cho vấn đề này là khả năng thu hút vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi tại các khu vực dân cư. Chính điều này đã tạo điều kiện công ăn việc làm và đóng góp quan trọng vào sự phát triển của mỗi địa phương. Thứ ba, DNNVV đóng vai trò không nhỏ trong việc góp phần tạo nên sự năng động của nền kinh tế. Với quy mô của mình, các DNNVV là những “vệ tinh” cực kỳ năng động, linh hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- cho các doanh nghiệp lớn thông qua các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ.
Bên cạnh đó, chính quy mô nhỏ là cơ sở cho những ý tưởng của những nhà kinh doanh hình thành.3 Tiêu chí đánh giá sự phát triển Để đánh giá sự phát triển của một doanh nghiệp có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Theo Sharu và Guyo (2013), phát triển của DNNVV có thể được đo lường bằng sự tăng lên của tài sản, thị phần, lợi nhuận và đầu ra. Nhưng, theo hai tác giả, do những khó khăn trong việc đo lường những tiêu chí trên, sự tăng lên của doanh thu và số lượng lao động trong một giai đoạn cụ thể nào đó là cơ sở được sử dụng phổ biến nhất. Nghiên cứu của Woldie, Leighton và Adesua (2008) sử dụng quan điểm, sự phát triển của doanh nghiệp tương đương với sự tăng lên của doanh thu.
Quan điểm sử dụng lao động và doanh thu cũng được ủng hộ bởi Soini và Veseli (2011), ngoài ra, hai tác giả cũng đưa ra đề nghị sử dụng tiêu chí giá trị gia tăng ở các nước đang phát triển. Trong nghiên cứu này, đánh giá sự phát triển của một doanh nghiệp dựa trên tiêu chí quy mô lao động. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, tiêu chí lao động sẽ phản ánh chính xác sự phát triển của doanh nghiệp, còn đối với vốn, do yếu tố lạm phát, trượt giá nên vốn là con số ảo và thậm chí là trở thành thảm họa. Nhiều nghiên cứu cũng sử dụng số lượng lao động để phản ánh quy mô doanh nghiệp (Bonaccorsi, 1992; Calof, 1994; Kalafsky, 2004; Majocchi, 2005; Wlliams, 2011; trích trong Monteiro, Moreira và Sousa, 2013).
Với quy ước, những doanh nghiệp có số lao động 10 người trở xuống gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp có từ 11 người tới 200 người là doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp có từ 201 người tới 300 người là doanh nghiệp vừa; và doanh nghiệp có số lao động từ 301 người trở lên là doanh nghiệp lớn.2 Lý thuyết “mới” về doanh nghiệp Khái niệm về doanh nghiệp, lý thuyết tân cổ điển truyền thống cho rằng doanh nghiệp là một “hộp đen” đơn vị sản xuất và được đặc trưng bởi hàm sản xuất Q = F(K, L) = a. Tuy nhiên, theo lý thuyết chi phí giao dịch của Coase thì nguyên nhân của việc thành lập doanh nghiệp là do “có một chi phí giao dịch khi sử dụng cơ chế giá cả”. Các loại chi phí khi sử dụng cơ chế giá cả bao gồm: Chi phí tìm kiếm thông tin (chi phí để đánh giá nhu cầu khách hàng, chi phí tìm kiếm bạn hàng, chi phí xác định giá cả); Chi phí phân tích và lựa chọn mức giá thích hợp; và Chi phí thương lượng, ký kết, chế tài hợp đồng. Theo Coase LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- (1937), “doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các mối quan hệ, ra đời khi sự điều động các nguồn lực phụ thuộc vào một nhà doanh nghiệp”.
Có 3 nhân tố quyết định quy mô của doanh nghiệp theo Coase, bao gồm: - Tương quan giữa chi phí bên trong doanh nghiệp và chi phí giao dịch ngoài thị trường; - Khả năng và mức độ phạm sai lầm khi số giao dịch tăng lên; - Biến động của thị trường như nhu cầu, giá, yếu tố đầu vào,… Coase (1937) cũng đề cập tới những lý thuyết về doanh nghiệp của những nghiên cứu khác. Lý thuyết quản trị công ty của Berle và Means; Jensen và Fama; La Porta, Lopez deSilanes, Shleifer và Vishny đề cao sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Sự tách bạch này xuất phát từ quy chế trách nhiệm hữu hạn và tư cách pháp nhân. Đặc trưng tách quyền kiểm soát và quyền sở hữu xuất hiện ở các công ty hiện đại.
Nếu như hai quyền này không tách rời nhau thì quy mô của công ty không thể lớn lên được. Thực tế được chứng minh ở các doanh nghiệp siêu nhỏ, kinh doanh hộ gia đình. Theo lý thuyết quyền sở hữu của Hart, Grossman và Moore, doanh nghiệp được xác định theo công nghệ như mô hình tân cổ điển nhưng trong trường hợp này công nghệ lại được xác định bằng tài sản vật chất và tài sản vô hình. Hai điểm cần chú ý trong lý thuyết này là tính không hoàn chỉnh của hợp đồng do yếu tố bất định và quyền quyết định những vấn đề không được quy định bởi hợp đồng của người có quyền sở hữu.
Williamson đưa ra lý thuyết mới về chi phí giao dịch nhằm giải thích cho mức độ hội nhập hàng dọc, tức là giải thích lý do tại sao một số hoạt động được đưa vào nội bộ doanh nghiệp và tại sao một số hoạt động được để lại bên ngoài thị trường. Câu trả lời là mức chi phí giao dịch. Giao dịch có chi phí cao là những giao dịch liên quan đến những tài sản có tính chuyên biệt cao. Khả năng phát triển của doanh nghiệp trong các thị trường cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất của những tài sản chuyên biệt mà doanh nghiệp có.