Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương 2: Cơ s l thuy t về tác động của môi trường văn hoá và k toán Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4: K t quả nghiên cứu, thảo luận k t quả và gợi giải pháp Chương 5: K t luận và ki n nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc và ngoài nƣớc về các vấn đề liên quan đến văn hóa ảnh hƣởng đến đặc trƣng kế toán, sự thay đổi của kế toán. Qua đó, tác giả xác định khe hở nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung và mục tiêu nghiên cứu của luận văn. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC [1] Nghiên cứu “Phân tích các nhân tố tác động đ n hệ thống k toán tại các quốc gia để xác định phương hướng hòa nhập với các thông lệ k toán quốc t của Việt Nam”, Vũ Hữu Đức (1999), chuyên đề đã xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến hệ thống kế toán của các quốc gia gồm các nhân tố thuộc môi trƣờng Pháp lý, môi trƣờng Kinh doanh, môi trƣờng Văn hóa.
Đề tài cũng mô tả các nhân tố này tại Việt Nam và đề xuất các phƣơng hƣớng để Việt Nam hòa nhập với thông lệ kế toán quốc tế. [2] Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề hội nhập quốc tế về kế toán nhƣ “Sự hoà hợp giữa chuẩn mực k toán Việt Nam và chuẩn mực k toán quốc t - Thực trạng, nguyên nhân và định hướng phát triển”. Tạp chí Kiểm toán số 12/2011 của tác giả PGS.TS Võ Văn Nhị và Ths. Lê Hoàng Phúc (2011) bài viết góp phần làm rõ thực trạng về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế; lý giải những khác biệt giữa VAS với IAS/IFRS, nêu ra Sự chƣa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân thuộc về yếu tố văn hóa xã hội, kinh tế và pháp luật ảnh hƣởng đến vấn đề chƣa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS và đề xuất tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế toán và giải pháp thuộc về môi trƣờng kinh tế, pháp luật.
[3] Nghiên cứu “Mức độ hài hoà giữa chuẩn mực k toán Việt Nam và chuẩn mực k toán quốc t ”. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng - Số 5(40).2010, của tác giả Phạm Hoài Hƣơng (2010), Bài viết xác định mức độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) liên quan đến 10 chuẩn mực kế toán chủ yếu có ảnh hƣởng quan trọng đến báo cáo tài chính. Kết quả phân tích cho thấy tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa IAS/IFRS và VAS, đặc biệt là vấn đề khai báo thông tin. Bài viết còn đề xuất để tiến tới vận dụng IAS/IFRS một cách đầy đủ, Việt Nam cần từng bƣớc hoàn thiện môi trƣờng kinh tế và luật pháp phù hợp với yêu cầu của IAS/IFRS.
Chẳng hạn nhƣ thị trƣờng giao dịch tài sản cần phải “minh bạch” và “hoạt động’” để có thể sử dụng giá trị hợp lý làm cơ sở đo lƣờng giá trị tài sản. [4] “Tìm ki m một chi n lược cho quá trình hội nhập quốc t về k toán tại Việt Nam”. Tạp chí phát triển kinh t , tháng 12/2008 của tác giả Vũ Hữu Đức và Trình Quốc Việt (2008), từ việc xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến sự khác biệt kế toán giữa các quốc gia, bài viết đề xuất việc phân biệt cách hội nhập quốc tế cho từng loại hình doanh nghiệp, trong đó phát triển các chuẩn mực có chất lƣợng cao dựa trên IFRS cho các công ty niêm yết và các doanh nghiệp thuộc một số lĩnh vực nhạy cảm nhƣ ngân hàng, bảo hiểm. Bài viết nhận định các quốc gia trên thế giới tuỳ theo đặc điểm của mình có những lựa chọn khác nhau về chiến lƣợc hội nhập, trong quá trình hội nhập, Việt Nam cần thận trọng trong việc thay đổi các chuẩn mực kế toán sao cho phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp mình.
[5] Các Luận văn thạc sĩ: “Quá trình hoà hợp - hội tụ k toán quốc t và phương hướng, giải pháp của Việt Nam” của tác giả Tăng Thị Thanh Thuỷ (2009), và Luận văn thạc sỹ: “Đề xuất chi n lược hội nhập k toán quốc t cho Việt Nam” của tác giả Trình Quốc Việt (2009) cũng đề cập đến các nhân tố ảnh hƣởng đến hệ thống kế toán và văn hoá là một nhân tố quan trọng cần lƣu ý trong quá trình thay đổi các chuẩn mực kế toán nhằm đi đến sự hoà hợp, hội tụ kế toán quốc tế. CÁC NGHIÊN CỨU NƢỚC NGOÀI [1] Gray, S.J (1988) “Towards a theory of cultural influence on the development of accounting systems internationally”. 24: 1-15, trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 bài viết này, Gray xác định đƣợc bốn khía cạnh kế toán có thể đƣợc sử dụng để xác định văn hóa kế toán 1 quốc gia: phát triển nghề nghiệp so với kiểm soát theo luật định; thống nhất so với linh hoạt; Bảo thủ so với sự lạc quan; bí mật so với công khai. Gray mở rộng mô hình Hofstede (1980) bằng cách liên kết yếu tố kế toán với các giá trị và chuẩn mực xã hội.
Gray lập luận rằng bản chất hệ thống kế toán của một quốc gia xuất phát từ những đặc trƣng của xã hội đó. Tuy nhiên Gray chƣa nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra lý thuyết của mình.A (1990), “Asia Pacific cultural values and accounting systems”. Asia Pacific International Management Forum. Eddie thực hiện nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên theo mô hình của Gray.
Phƣơng pháp nghiên cứu để kiểm tra lý thuyết bằng cách xây dựng một chỉ số của giá trị kế toán cho mƣời ba nƣớc Châu Á-Thái Bình Dƣơng và sau đó kết hợp với yếu tố văn hóa của Hofsteded. Kết quả là có mối quan hệ giữa các yếu tố văn hoá và kế toán, tuy nhiên các phƣơng pháp đo lƣờng chƣa nghiêm ngặt và chƣa có xác nhận độc lập, và nhƣ vậy những phát hiện này đã nhanh chóng bị bác bỏ. (1995), “Cultural influence on the development of accounting systems internationally: a test of Gray's (1988) theory”, Tạp chí Nghiên cứu kinh doanh quốc tế. Niswander mở rộng nghiên cứu của Eddies (1990) dựa trên dữ liệu 29 quốc gia, sử dụng phân tích hồi quy để kiểm tra giả thuyết của Gray các giá trị kế toán của Gray là biến phụ thuộc và giá trị văn hóa Hofstede nhƣ biến độc lập.
Họ nhận thấy rằng mô hình của Gray là giải thích tốt nhất trong việc thực hành báo cáo tài chính thực tế nhƣng tƣơng đối yếu trong việc giải thích cấu trúc chuyên nghiệp. Họ cũng nhận thấy rằng kết hợp trình độ phát triển của thị trƣờng tài chính và mức thuế tăng khả năng giải thích của mô hình của Gray. Trong kết luận của họ, họ đề nghị thử nghiệm thêm và mở rộng của mô hình theo chiều dọc của sự thay đổi kế toán ở các nƣớc khác nhau là cần thiết để xem trong những yếu tố xác định là quan trọng nhất để thay đổi kế toán ở các nƣớc khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
(1996), "Spontaneous harmonization effects of culture and market forces on accounting disclosure practices”, Accounting Horizons. Zarzeski cho rằng không chỉ văn hoá mà còn do yêu cầu chủ sở hữu quốc tế của công ty ảnh hƣởng đến việc hành nghề kế toán, cụ thể là vấn đề công bố thông tin kế toán trong mô hình của Gray (1988) sẽ phụ thuộc vào tính quốc tế của công ty. “An examination of cultural influence on audit environments”. Research in Accounting Regulation.
Wingate chỉ xem xét một yếu tố văn hoá để kiểm tra sự ảnh hƣởng đến việc công bố thông tin kế toán. Sử dụng dữ liệu độc lập về công khai tài chính là biến phụ thuộc, và những giá trị văn hoá của Hofstede là biến độc lập áp dụng cho 39 quốc gia, Wingate phát hiện ra rằng, điều này trái với giả thuyết của Gray (1988). Khoảng cách quyền lực ảnh hƣởng không đáng kể đến việc công bố thông tin. “Impact of culture, market forces, and legal system on financial Disclosures”, Tạp chí Quốc tế về kế toán.
Jaggi và Low xem xét các vấn đề về văn hóa, công bố kế toán và hệ thống pháp luật kế toán bằng dữ liệu từ 3 quốc gia sử dụng Điển chế Luật (Code Law) và 3 quốc gia dùng Thông luật (Common Law). Kết quả là: đối với các nƣớc dùng Common Law, không biến văn hóa nào có ý nghĩa; đối với các nƣớc dùng Code-law thì tất cả các biến văn hóa có ý nghĩa nhƣng mà chỉ có 1 biến có chiều hƣớng diễn ra giống nhƣ trong giả thiết của Gray. Jag và Low kết luận không chỉ giả thiết Gray có yếu tố bí mật với công khai là không phù hợp mà các yếu tố văn hóa của Hofstede cũng có thể đã lỗi thời. Ngoài ra bởi vì các chỉ số văn hóa (theo lý thuyết của Hofstede) đƣợc lấy ra cũng chỉ từ 1 công ty IBM nên có thể không phản ánh đƣợc sự đa dạng của từng nƣớc trong tổng số 39 quốc gia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nền văn hóa có ít hoặc không có ảnh hƣởng đến mức độ công bố thông tin một khi hệ thống pháp luật đƣợc xem xét. [7] Iraj Noravesh, Zahra Dianati Dilami và Mohammad S.Bazaz (2007), “The impact of culture on accounting: does Gray’s model apply to Iran?”, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Review of Accounting and Finance, Vol 6:254-272. Mục đích của bài viết này là để kiểm tra các mối quan hệ giữa các giá trị văn hoá (nhƣ định nghĩa bởi Hofstede) và các giá trị kế toán (nhƣ mô tả của Gray) tại Iran, kết quả cho thấy là phù hợp hơn một nửa trong số các giả thuyết của Gray về mối quan hệ giá trị văn hoá với giá trị kế toán ở Iran. Sự không phù hợp là do nhiều vấn đề nhƣ sự phát triển bất thƣờng trong kế toán ở Iran, tác động của kinh tế không ổn định, sử dụng phƣơng pháp kế toán không phù hợp, tác động của quyền sở hữu của chính phủ , và sự thiếu phát triển thị trƣờng vốn truyền thống có thể là yếu tố xác định lý do một số các giả thuyết của Gray đã không đƣợc hỗ trợ.
[8] Davood Askarany, “Culture and accounting practices in Turkey” , Int. Accounting, Auditing and Performance Evaluation, Vol.