PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục học thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ đặc biệt là đào tạo nghề, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đổi mới đào tạo nghề ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết đảm bảo nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Kinh nghiệm cải cách đào tạo nghề của các nƣớc có nền dạy nghề phát triển là Chính phủ và các đơn vị dạy nghề cần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp và đem lại hiệu quả cao.
Quản lý tài chính phù hợp là một trong những vấn đề chủ yếu của bất kỳ hệ thống giáo dục đào tạo nghề nào trên thế giới. Trong các cuộc thảo luận về đào tạo nghề, những vấn đề về tài chính thƣờng nổi bật do những quan điểm khác nhau của nhiều bên liên quan. Các nhà hoạch định chính sách đang đặt ra câu hỏi liệu ngân quỹ Nhà nƣớc có thể tiếp tục chi bao nhiêu cho phát triển đào tạo nghề giữa những đòi hỏi cấp bách và cạnh tranh của rất nhiều mục tiêu khác (giáo dục phổ thông, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển giao thông công cộng…. Nhu cầu về tri thức và đổi mới công nghệ, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng buộc các trƣờng dạy nghề phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp để có thể nắm bắt kịp thời các cơ hội và vƣợt qua những thử thách trong xu hƣớng hội nhập hiện nay.
Trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, trƣờng đã rất tích cực cải cách và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng, đã chủ động khai thác tối đa các nguồn thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi phí, tích cực cân đối thu chi đảm bảo tự chủ một phần về tài chính phục vụ tốt sự nghiệp giáo dục đào tạo. Trong thời gian qua trƣờng Cao đẳng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề Cơ điện Hà Nội đã không ngừng phát triển và xây dựng trƣờng theo mô hình một trƣờng Cao đẳng nghề đa ngành, đa cấp với các đặc thù về cơ điện, khoa học công nghệ, kinh tế - xã hội…vì vậy nhu cầu về đổi mới cơ chế quản lý trong công tác tài chính là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên đây, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý tài chính tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội” mong muốn tìm hiểu thực trạng quản lý tài chính tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội và đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị này. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu và của các trƣờng dạy nghề.
Phân tích đánh giá tình hình quản lý tài chính tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội, rút ra ƣu, nhƣợc điểm và đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính của trƣờng. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu cơ chế quản lý tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau: - Cơ sở lý luận và cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu và các trƣờng dạy nghề; - Tìm hiểu thực trạng và đánh giá tình hình quản lý tài chính tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội; - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại trƣờng Cao đẳng nghề Cơ điện Hà Nội 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập và thực tiễn quản lý tài chính tại trƣờng Cao đẳng nghề cơ điện Hà Nội. Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƢỜNG NGHỀ CÔNG LẬP. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, để thực hiện mục tiêu tự chủ tài chính thì các đơn vị sự nghiệp công lập cần phải nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại đơn vị. Bài viết “Tăng tính tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập” đăng trên Tạp chí tài chính, theo cổng thông tin điện tử Chính Phủ, ngày 21 tháng 11 năm 2014. Đổi mới, cải cách mạnh mẽ hơn khu vực sự nghiệp công, công cuộc đổi mới khu vực sự nghiệp công lập theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã đƣợc triển khai hơn 10 năm qua, từ Nghị định số 10 năm 2002 đến Nghị định số 43 năm 2006 (sau đây gọi tắt là Nghị định 43).
Sau hơn 7 năm thực hiện Nghị định 43 cho thấy, việc mở rộng trao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần nâng cao số lƣợng và chất lƣợng dịch vụ công; tạo điều kiện cho ngƣời dân có thêm cơ hội đƣợc lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ có chất lƣợng ngày càng cao; thu nhập của ngƣời lao động từng bƣớc đƣợc cải thiện. Mặc dù có những tiến bộ, nhƣng qua tổng kết đánh giá việc thực hiện Nghị định 43 cũng cho thấy, các đơn vị sự nghiệp chƣa đƣợc giao quyền tự chủ một cách đầy đủ, từ đó hạn chế quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc phát triển mở rộng, nâng cao chất lƣợng cung ứng dịch vụ công, nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động; chƣa thực sự khuyến khích các đơn vị có điều kiện vƣơn lên tự chủ ở mức cao hơn, giảm dần nhu cầu hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nƣớc tiến tới tự đảm bảo toàn bộ chi tiêu từ nguồn thu sự nghiệp của mình. Giao quyền tự chủ cho các đơn vị: Là đơn vị đƣợc Chính phủ giao xây dựng Nghị định khung sửa đổi Nghị định 43 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự nghiệp công lập, Bộ Tài chính đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định, lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành, địa phƣơng và trực tiếp từ một số đơn vị sự nghiệp. Dự thảo Nghị định cũng đƣợc đƣa ra bàn thảo, cho ý kiến tại một số cuộc họp của Ban Chỉ đạo Nhà nƣớc về đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo cơ quan chủ trì soạn thảo Nghị định, khu vực sự nghiệp công hiện có khoảng 33.000 đơn vị, với tổng số biên chế gần 2,1 triệu ngƣời, chiếm trên 80% tổng biên chế trong bộ máy nhà nƣớc (trừ lực lƣợng vũ trang); tổng quỹ lƣơng của khu vực này cũng chiếm xấp xỉ 80% tổng quỹ lƣơng của khối các cơ quan, đơn vị Nhà nƣớc. Vì vậy, việc đổi mới quản lý khu vực sự nghiệp công, trong đó có việc tăng cƣờng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị này, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vƣơn lên tự chủ ở mức cao, giảm dần nhu cầu hỗ trợ từ ngân sách nhà nƣớc, từ đó Nhà nƣớc có thể dành thêm nguồn chăm lo tốt hơn cho các đối tƣợng chính sách, các đối tƣợng hộ nghèo, bảo trợ xã hội,. Để các đơn vị sự nghiệp công phát huy đƣợc tính tự chủ, phát triển vƣơn lên, thì nhân tố giao quyền tự chủ tài chính đóng vai trò rất quan trọng. Chính vì vậy, tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 43 lần này quy định: Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công sẽ dựa trên mức độ tự chủ nguồn thu sự nghiệp (tính tổng thể các nguồn thu của đơn vị bao gồm cả nguồn NSNN); các đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính đƣợc giao quyền tự chủ tài chính cao và ngƣợc lại.
Đặc biệt, để khuyến khích các đơn vị tự phấn đấu tăng nguồn thu để đƣợc mức tự chủ cao, dự thảo cũng có nhiều mức độ khác nhau nhƣ: Tự chủ tài chính đối với đơn vị bảo đảm chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thƣờng xuyên; Tự chủ tái chính đối với đơn vị bảo đảm một phần chi thƣờng xuyên…Đáng chú ý, để khuyến khích 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và tạo điều kiện hơn nữa cho các đơn vị sự nghiệp lên tự chủ ở mức độ cao hơn, dự thảo Nghị định quy định đơn vị tự bảo đảm chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ khi đáp ứng các điều kiện theo quy định, đƣợc vận dụng cơ chế tài chính nhƣ doanh nghiệp (công ty TNHH một thành viên do Nhà nƣớc năm giữ 100% vốn điều lệ). Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, để tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hạch toán đƣợc đầy đủ, toàn diện, vƣơn lên tự chủ ở mức cao hơn, đồng thời cạnh tranh một cách minh bạch, công bằng với các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, thì vấn đề giá dịch vụ công và lộ trình điều chỉnh giá là then chốt, nhƣng cũng là vấn đề khó, nhạy cảm, bởi nó có tác động lớn đến đời sống của đại đa số ngƣời dân, đặc biệt là đối với giá dịch vụ giáo dục-đào tạo và dịch vụ y tế. Vì vậy, để xử lý một phần mâu thuẫn này, dự thảo Nghị định cũng quy định nguyên tắc: trong quá trình điều chỉnh giá, Nhà nƣớc có chính sách hỗ trợ cho các đối tƣợng chính sách, ngƣời nghèo và hỗ trợ đối với các đơn vị sự nghiệp công trong trƣờng hợp cần thiết. Vấn đề này chƣa đƣợc đặt ra trong Nghị định 43.
Qua nghiên cứu thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nƣớc, dự thảo Nghị định đã phân định dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN và dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN. Cụ thể đối với loại hình dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN thì đơn vị đƣợc tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trƣờng. Còn đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN thì Nhà nƣớc ban hành danh mục dịch vụ sự nghiệp công và Nhà nƣớc định giá. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.