Tổng quan nghiên cứu

Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong giai đoạn 2006–2012, mức chi ngân sách nhà nước của Việt Nam cho khoa học công nghệ đã tăng từ 428 triệu USD (tương đương 0,17% GDP) lên 653 triệu USD (tương đương 13.000 tỷ VND, chiếm khoảng 0,27% GDP). Mặc dù tỷ lệ này cao hơn Indonesia (0,05% GDP) và Philippines (0,12% GDP), nhưng hoạt động nghiên cứu khoa học tại hệ thống giáo dục đại học vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong 10 năm từ 1996 đến 2005, cả nước chỉ công bố 3.456 bài báo khoa học quốc tế, trong đó khối trường đại học chỉ đóng góp 1.192 bài (chiếm 34%), phần còn lại thuộc về các viện nghiên cứu độc lập.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là cơ chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học vẫn mang nặng tính hành chính, thiếu động lực kinh tế và chưa gắn kết hiệu quả với thị trường. Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý kinh tế đối với hoạt động khoa học công nghệ, phân tích thực trạng quản trị tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn 2006–2014, khảo sát chuyên sâu mô hình tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược nhằm tối ưu hóa nguồn lực cho hơn 200 trường đại học, thúc đẩy tỷ lệ giảng viên tham gia nghiên cứu thực chất vượt qua mức 28,4%, nâng cao số lượng công bố quốc tế chuẩn ISI/Scopus và gia tăng tỷ trọng nguồn thu từ chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế tri thức.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết về vai trò của tri thức trong sản xuất hiện đại bắt nguồn từ quan điểm kinh điển của Karl Marx, khẳng định tri thức xã hội phổ biến chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận lý thuyết kinh tế tri thức, nơi nguồn lực trí tuệ và đổi mới công nghệ liên tục đóng vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, vượt trội hơn tài nguyên thiên nhiên hay vốn hữu hình. Khung phân tích còn kết hợp mô hình liên kết Ba Nhà (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) nhằm đánh giá dòng chảy tri thức từ giảng đường vào thực tiễn sản xuất.

Về mặt khái niệm, luận văn làm rõ hai cấp độ quản lý khoa học công nghệ:

  • Quản lý vĩ mô: Hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế điều tiết của Nhà nước nhằm định hướng, phân bổ ngân sách và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
  • Quản lý cơ sở: Hoạt động của trường đại học trong việc kết hợp các nguồn lực phần cứng (trang thiết bị, phòng thí nghiệm), phần mềm (quy trình, cơ chế đánh giá) và con người để triển khai kế hoạch nghiên cứu 5 năm và hằng năm.

Nghiên cứu bám sát khung pháp lý trọng tâm gồm Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011–2020 và Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT ngày 30/5/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về quản lý hoạt động khoa học công nghệ trong trường đại học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu thứ cấp quy mô toàn quốc bao gồm 207 trường đại học với 61.674 cán bộ giảng viên (trong đó có 8.869 tiến sĩ chiếm 14,3% và 28.987 thạc sĩ chiếm 47%) theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2013. Cỡ mẫu phân tích chi tiết gồm 34 trường đại học được khảo sát trực tiếp về số lượng và kinh phí đề tài khoa học giai đoạn 2006–2009.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng đại diện, lựa chọn hai mô hình điển hình: Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (đại diện cho đại học đa ngành, định hướng nghiên cứu) và Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội thành lập theo Quyết định số 315/2005/QĐ-TTg (đại diện cho đại học định hướng ứng dụng và thực hành kỹ thuật).

Luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phân tích thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu thứ cấp và so sánh đối chuẩn. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm nhận diện khách quan sự vận động của cơ chế quản lý qua từng mốc thời gian, làm rõ mối quan hệ giữa định mức giờ giảng dạy - nghiên cứu và năng suất học thuật thực tế trong dòng thời gian từ năm 2006 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng suất nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học còn ở mức rất thấp so với quy mô lực lượng. Trong tổng số hơn 61.000 giảng viên cả nước giai đoạn 2006–2009, chỉ có khoảng 28,4% tham gia hoạt động khoa học công nghệ và chuyển giao tri thức. Tỷ lệ giảng viên tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước chỉ dao động trong khoảng từ 0,55% đến 4,6%. Tại 34 trường đại học khảo sát, tổng cộng có 248 đề tài cấp Nhà nước, 1.823 đề tài cấp Bộ và 5.505 đề tài cấp Trường với tổng kinh phí 136 tỷ đồng; tính trung bình mỗi năm một trường chỉ thực hiện khoảng 2 đề tài cấp Nhà nước và 17 đề tài cấp Bộ.

Thứ hai, khoảng cách công bố quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á rất lớn. Thống kê của Viện Thông tin Khoa học (ISI) trong 15 năm (1996–2011) cho thấy toàn Việt Nam chỉ có 13.172 ấn phẩm quốc tế có bình duyệt. Con số này chỉ bằng khoảng 18,9% của Thái Lan (69.637 bài), 17,4% của Malaysia (75.530 bài) và 10,4% của Singapore (126.000 bài). Thậm chí, tổng công bố 15 năm của cả nước chưa bằng 1/5 sản lượng của riêng Đại học Tokyo (69.806 bài) và chưa bằng một nửa của Đại học Quốc gia Singapore (28.070 bài). Cơ cấu công bố cũng lệch mạnh: lĩnh vực Y sinh chiếm 24,3%, trong khi khối Kinh tế chỉ chiếm 2,5% và Khoa học xã hội chỉ đạt 1,6%.

Thứ ba, cơ chế quản lý nội bộ tạo ra hiện tượng nghiên cứu đối phó. Khảo sát tại các trường trọng điểm như Đại học Kinh tế TP.HCM giai đoạn 2008–2012 cho thấy trung bình mỗi năm trường có 89 bài báo trong nước nhưng chỉ có 6 bài báo quốc tế, đạt tỷ lệ khiêm tốn 0,2 bài/giảng viên/năm. Đa số đề tài cấp trường (kinh phí thấp từ 15 đến 20 triệu đồng) được thực hiện chủ yếu để hoàn thành chỉ tiêu định mức giờ lao động hơn là tạo ra giá trị ứng dụng.

Thứ tư, sự chia cắt giữa hệ thống đại học và 71 viện nghiên cứu độc lập có chức năng đào tạo sau đại học khiến nguồn lực bị phân tán, thiếu cơ chế phối hợp trong khai thác cơ sở dữ liệu và phòng thí nghiệm.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên bắt nguồn từ những nguyên nhân mang tính hệ thống. Về phân bổ thời gian, Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT quy định giảng viên phải hoàn thành 280–360 giờ giảng chuẩn và 500–700 giờ nghiên cứu. Trên thực tế, do áp lực quá tải sinh viên, giảng viên thường phải dạy gấp đôi định mức, đạt từ 600 đến hơn 1.000 giờ giảng thực tế mỗi năm, làm triệt tiêu thời gian đầu tư cho nghiên cứu chuyên sâu.

Về cơ chế tài chính, mức thù lao 500.000 đồng cho một bài báo khoa học hoặc 15–20 triệu đồng cho một đề tài cấp trường không đủ bù đắp chi phí khảo sát thực nghiệm. Cơ chế xét duyệt phụ thuộc nhiều vào quyết định hành chính của phòng ban chức năng hơn là bình duyệt học thuật độc lập.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh phân bổ có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ chi ngân sách cho khoa học công nghệ (% GDP) của Việt Nam (0,27%) so với Singapore (2,2%) và Malaysia (0,5%), kết hợp bảng tổng hợp cơ cấu công bố quốc tế ISI phân theo chuyên ngành. So sánh này khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình quản trị đại học từ quản lý hành chính thụ động sang quản trị hiệu suất theo chuẩn mực quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc tổ chức và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý khoa học công nghệ. Ban Giám hiệu các trường đại học cần thiết lập cổng thông tin điện tử quản lý đề tài nghiên cứu từ khâu đăng ký, thẩm định thuyết minh, báo cáo tiến độ định kỳ 3 tháng/lần đến nghiệm thu trực tuyến. Mục tiêu cắt giảm 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2016–2018.

Thứ hai, cải cách cơ chế tài chính và chính sách khen thưởng thỏa đáng. Phòng Quản lý Khoa học và Phòng Kế hoạch - Tài chính cần tham mưu nâng mức kinh phí hỗ trợ đề tài cấp cơ sở lên 50–100 triệu đồng/đề tài, đồng thời áp dụng mức thưởng tối thiểu 20–50 triệu đồng cho mỗi bài báo công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI/Scopus. Lộ trình thực hiện cần đạt mốc 100% trường đại học công lập áp dụng quy chế tài chính mới trước năm 2020.

Thứ ba, thúc đẩy liên kết thương mại hóa với doanh nghiệp và 71 viện nghiên cứu. Các trường đại học kỹ thuật và kinh tế cần chủ động ký kết hợp đồng nghiên cứu theo đơn đặt hàng của thị trường, thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ và các nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành. Mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ khoa học công nghệ đạt ít nhất 20% tổng thu của nhà trường vào năm 2020.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên và người học. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội đồng khoa học các trường cần đưa học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học (chú trọng kỹ năng phân tích định lượng, định tính và viết bài báo quốc tế bằng tiếng Anh) thành môn học bắt buộc ở 100% chương trình đào tạo đại học và sau đại học từ năm học 2016–2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ: Sử dụng luận văn làm cơ sở dữ liệu thực tiễn để rà soát, sửa đổi các quy định về định mức giờ giảng dạy - nghiên cứu khoa học và cơ chế tài chính cấp phát ngân sách.
  • Ban Giám hiệu và lãnh đạo Phòng Quản lý Khoa học Công nghệ tại các trường đại học: Vận dụng mô hình quản lý của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Công nghiệp Hà Nội để tái cơ cấu bộ máy quản lý đề tài, xây dựng quy chế khen thưởng và tiêu chí đánh giá hiệu quả nghiên cứu nội bộ.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý giáo dục: Khai thác khung lý luận, phương pháp luận nghiên cứu và hệ thống số liệu thứ cấp giai đoạn 2006–2014 phục vụ cho các công trình nghiên cứu mở rộng.
  • Lãnh đạo các viện nghiên cứu và doanh nghiệp: Tham khảo để thiết lập cơ chế hợp tác công tư, liên kết đặt hàng nghiên cứu và nhận chuyển giao kết quả khoa học kỹ thuật từ khối trường đại học.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao năng suất công bố quốc tế của các trường đại học Việt Nam giai đoạn 2006–2014 lại thấp hơn nhiều so với khu vực?

Nguyên nhân chính xuất phát từ việc giảng viên bị quá tải giờ dạy (thường vượt từ 600 đến 1.000 giờ/năm), rào cản tiếng Anh học thuật, thiếu nhóm nghiên cứu mạnh và chính sách tài chính chưa tạo động lực. Giai đoạn 1996–2011, cả nước chỉ có 13.172 bài ISI, bằng khoảng 10,4% sản lượng của Singapore.

Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT quy định những nội dung trọng tâm nào trong quản lý khoa học công nghệ đại học?

Thông tư số 22/2011/TT-BGDĐT quy định trường đại học phải thành lập phòng chuyên trách quản lý khoa học công nghệ, xây dựng kế hoạch 5 năm và hằng năm, huy động các nguồn tài chính hợp pháp, tổ chức hội đồng khoa học tư vấn, kiểm tra định kỳ và thực hiện chế độ báo cáo kết quả hoạt động.

Nghịch lý lớn nhất trong công tác nghiên cứu khoa học tại các trường đại học hiện nay là gì?

Nghịch lý lớn nhất là số lượng đề tài nghiệm thu cấp bộ và cấp trường khá nhiều (trung bình 17 đề tài cấp Bộ và 54 đề tài cấp trường/năm tại mỗi đơn vị khảo sát) nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở báo cáo nghiệm thu đóng bìa lưu trữ, thiếu vắng các công bố quốc tế và ứng dụng thực tế.

Sự chia tách giữa trường đại học và các viện nghiên cứu độc lập gây ra những hạn chế gì?

Việt Nam có 71 viện nghiên cứu độc lập được cấp phép đào tạo sau đại học trực thuộc các bộ ngành nhưng chưa có cơ chế chia sẻ tài nguyên với trường đại học. Sự thiếu gắn kết này làm phân tán ngân sách nhà nước, gây trùng lặp đề tài và lãng phí trang thiết bị thí nghiệm chuyên sâu.

Làm thế nào để nâng cao động lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên trẻ?

Cần chuyển đổi cơ chế quản lý từ thâm niên sang đánh giá dựa trên kết quả đầu ra (KPIs), tăng mức thù lao đề tài cơ sở lên 50–100 triệu đồng, thưởng trực tiếp cho bài báo quốc tế và tạo điều kiện cử cán bộ trẻ đi đào tạo phương pháp nghiên cứu tiên tiến tại nước ngoài.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và quản trị cơ sở đối với hoạt động khoa học công nghệ trong bối cảnh chuyển dịch sang kinh tế tri thức.
  • Phân tích bức tranh thực trạng toàn cảnh của hơn 200 trường đại học và 61.674 giảng viên giai đoạn 2006–2014, chỉ rõ khoảng cách phát triển so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
  • Nhận diện các điểm nghẽn then chốt gồm: áp lực giảng dạy quá tải, định mức thù lao thấp, quy trình xét duyệt mang nặng tính hành chính và thiếu sự liên kết với doanh nghiệp.
  • So sánh thực chứng hai mô hình quản lý tiêu biểu giữa trường đại học định hướng nghiên cứu đa ngành và trường đại học định hướng ứng dụng thực hành.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn với lộ trình hành động cụ thể nhằm hiện đại hóa hệ thống quản lý khoa học công nghệ đại học đến năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để các nhà quản lý đổi mới cơ chế phân bổ tài chính và đánh giá học thuật theo chuẩn mực quốc tế. Trong giai đoạn tiếp theo, các trường đại học cần khẩn trương số hóa quy trình quản lý, thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển bền vững của nền kinh tế.