phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý đội ngũ công chức, viên chức trong các tổ chức công. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ công chức, viên chức tại Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thƣơng mại giai đoạn 2010 – 2014. Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ công chức, viên chức tại Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thƣơng mại.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TRONG CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1.1 Tình hình nghiên cứu về quản lý đội ngũ công chức, viên chức 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nƣớc ngoài có khá nhiều bài viết mang tính thời sự về công chức. Có thể kể đến một số công trình, bài viết nổi tiếng của các tác giả nhƣ: Đề tài “Xu hƣớng quản lý công chức trên thế giới” của tác giả Yeow Poon, chuyên gia tƣ vấn của Dự án ADB. Trong đề tài này, tác giả đã phân tích hệ thống chức nghiệp, hệ thống theo vị trí việc làm, trong đó đƣa ra những định hƣớng nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCVC, công chức bằng cách “đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dƣỡng, các kỹ năng, chiến lƣợc quản lý, kỹ năng quản lý nhân sự, giám sát và đánh giá, tuyển dụng và đề bạt theo hƣớng mở, cạnh tranh công bằng”. Bài viết “Công vụ mới ở Thái Lan, lý thuyết và thực tiễn” của tác giả Somphoc Nophakoon - Thái Lan.
Tiến sỹ Somphoc Nophakoon đã phân tích nền công vụ Thái Lan và đƣa ra những nguyên tắc cơ bản để nâng cao chất lƣợng CCVC, công chức nhà nƣớc nhƣ “tuyển dụng công bằng, quản lý nhân sự công bằng, đánh giá công chức phải dựa trên hành vi và hiệu quả công việc, kỷ luật phải đúng, trung lập về chính trị và đảm bảo công việc, trả lƣơng xứng đáng theo năng lực, vị trí”. Cũng trong bài viết của mình, tác giả đã giới thiệu cách phân loại công chức ở Thái Lan gồm 3 loại: “Công chức thƣờng, công chức đặc biệt và công chức Hoàng gia” Đề tài: “Cải cách hành chính công ở New Zealand” của tác giả Robert Gregory - New Zealand. Tác giả đề cập đến những nguyên nhân và định hƣớng nâng cao chất lƣợng nền công vụ và công chức. Trong đó đƣa ra những yêu cầu đối với ngƣời đứng đầu đơn vị cung cấp dịch vụ công đó là phải có khả năng giao tiếp, trung thực, trí tuệ, có năng lực quản lý, lãnh đạo có tính chiến lƣợc, nhạy cảm về 4 chính trị.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra những chế tài khen thƣởng kỷ luật, những bắt buộc công chức phải tự nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong quá trình công tác. Tóm lại, các nghiên cứu ở nƣớc ngoài phạm vi nghiên cứu rộng, cả nền công vụ, đội ngũ công chức của cả một quốc gia và chủ yếu nghiên cứu theo hƣớng nghiên cứu lý luận.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 Luật công chức có hiệu lực thi hành và từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 Luật viên chức có hiệu lực thi hành đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề về CCVC trên phạm vi cả nƣớc. Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau. Cụ thể: Đề tài: “Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ công chức nhà nƣớc đến năm 2000”, đề tài khoa học cấp Bộ do Ban Tổ chức CC Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) thực hiện năm 1997.
Hoặc nhƣ đề tài cấp Bộ: “Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức”do Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) thực hiện năm 1998. Đề tài: “Nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức quản lý nhà nƣớc đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc” của tác giả Nguyễn Bắc Son. Đề tài đã phân tích đánh giá đội ngũ CCVC, công chức Việt Nam, phân tích nguyên nhân dẫn tới những hạn chế về chất lƣợng đội ngũ công chức QLNN và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức QLNN, đáp ứng thời kỳ CNH - HĐH đất nƣớc trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới. Đề tài cấp nhà nƣớc “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCVC trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc” do GS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm làm chủ nhiệm.
Đề tài này có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cơ sở các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn và kế thừa kết quả của nhiều công trình đi trƣớc, các tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCVC. Từ 5 đó, đƣa ra hệ thống các quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCVC, trong đó có đội ngũ CCVC nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Đề tài:"Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nƣớc - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp ” của tác giả Nguyễn Minh Anh, năm 2000.
Đề tài này đã tập trung nghiên cứu về hiệu lực, hiệu quả quản lý HCNN, trong đó đặt công chức HCNN trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý HCNN. Sách chuyên khảo: "Công vụ, công chức,viên chức Nhà nƣớc" của GS.TS Phạm Hồng Thái, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, 2004, tập trung làm rõ khái niệm CCVC trên cơ sở phân tích pháp luật về CCVC ở Việt Nam, chỉ ra xu hƣớng điều chỉnh của pháp luật về CCVC ở Việt Nam. Sách chuyên khảo "Thể chế công vụ" của TS. Nguyễn Cảnh Hợp.
Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, 2011, trong đó tập trung làm rõ các khái niệm công vụ; khái lƣợc sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về CCVC, từ đó đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật viên chức, công chức. Phân tích nội dung các quy định của pháp luật về công vụ CCVC, nội dung pháp luật về quản lý CCVC ở tất cả các khâu. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết thiết thực, nhiều cuộc hội thảo đã đƣợc tổ chức nhƣ: “Quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả GS.TS Bùi Văn Nhơn và các cộng sự, 2004; “Giải pháp xây dựng đội ngũ công chức viên chức quản lý nhà nƣớc về kinh tế cấp cơ sở tỉnh Thanh Hóa”.
Luận văn Thạc sĩ, Học viên Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Lê Khắc Ngọc, 2010; “Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nƣớc về kinh tế quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ, Học viên Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Đỗ Đình Sơn, 2012. Nhƣ vậy, xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra những lý giải không giống nhau về quản lý đội ngũ CCVC trong các tổ chức công. Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã đề cập 6 đến nhiều khía cạnh khác nhau và có những đóng góp trong việc hoạch định chủ trƣơng, chính sách, tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCVC trong các tổ chức công ở nƣớc ta.
Tuy nhiên, các nghiên cứu thƣờng nghiêng về cách tiếp cận từ nền HCNN, dựa trên quan điểm của quản lý HCNN; Các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn luận về khái niệm CCVC hành chính, và thƣờng tập trung phân tích đánh giá về công chức nhà nƣớc nói chung, ít đi sâu vào một nhóm CCVC hoặc CCVC ở một tổ chức công cụ thể. Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt phƣơng pháp luận là chủ yếu, hoặc tập trung nghiên cứu trên phạm vi khá rộng (toàn bộ đội ngũ CCVC, đội ngũ công chức HCNN nói chung…); hoặc chỉ nghiên cứu một số khâu của công tác xây dựng đội ngũ công chức HCNN. Trên cơ sở những lý luận của các tác giả trong nƣớc và thế giới, tác giả tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ CCVC nói chung và đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ CCVC tại một tổ chức công cụ thể là Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thƣơng mại - Bộ Công Thƣơng.2 Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ công chức, viên chức trong các tổ chức công 1.1 Một số khái niệm Quản lý Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động, là phạm trù lịch sử. Quản lý ra đời gắn liền với hoạt động chung của nhiều ngƣời trong xã hội, bởi vì: “ Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tƣơng đối lớn ở mức độ nhiều ít đều cần đến quản lý”.
Sách “Thuật ngữ pháp lý” của Vũ Duy Lâm định nghĩa quản lý là: “Các phƣơng thức, biện pháp nhằm làm cho hoạt động, tƣ duy của con ngƣời riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học đƣợc tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt hiệu quả cao. Các biện pháp quản lý chủ yếu gồm các biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính, biện pháp giáo dục”. Theo giáo sƣ kinh tế học Mai Hữu Khuê - Chuyên gia cao cấp Học viện Hành chính Quốc gia: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của ngƣời lãnh 7 đạo mang tính tổng hợp của các hoạt động lao động trí óc, liên kết với bộ máy quản lý làm cho hoạt động nhịp nhàng đƣa đến hiệu quả”. Nhƣ vậy, quản lý là điều hành đƣợc tài lực, vật lực, nhân lực và quyền lực để đi đến kết quả quản lý.
Tóm lại, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt đƣợc mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý.