Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3. Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại 5 Ban cơ yếu Chính phủ Chương 4.
Quan điểm và khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban cơ yếu Chính phủ. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Quản lý các dự án đầu tư là một vấn đề quan trọng luôn được quan tâm không chỉ đối với các nhà nghiên cứu kinh tế mà còn cả các nhà quản trị. Ở Việt Nam trong những năm qua được sự quan tâm và chỉ đạo của Chính phủ, hoạt động đầu tư xây dựng đã đạt được một số thành tựu nhất định, giải quyết tốt các vấn đề về an sinh, kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, đặc biệt là vấn đề thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB thời gian qua là rất lớn, hiệu quả đầu tư các công trình thấp.
Nó tồn tại ở các khâu của đầu tư xây dựng và trở thành mối quan tâm của tất cả các cấp, các ngành, của toàn xã hội. Một trong các nguyên nhân không thể không kể đến là do hoạt động quản lý dự án đầu tư còn nhiều yếu kém. Do vậy làm tốt công tác quản lý dự án đầu tư là một công việc hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư. Trong thời gian qua cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn đầu tư đầu tư xây dựng, về quản lý dự án đầu tư xây dựng nhằm tìm hướng giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu các đề tài này khá rộng, mang tính chất chung chung như: Nguyễn Việt Dũng (2006), Luận văn Thạc sỹ kinh tế (Đại học Kinh tế Quốc dân), "Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ở 7 Việt Nam". Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng (Ở Việt Nam) nên các khái niệm, số liệu còn chung chung, nội dung của đề tài nặng về lý luận, thiếu các số liệu điều tra thực tế, cụ thể; phương pháp nhiên cứu còn sơ sài, chưa phân tích đánh giá cụ thể từng khâu, thiếu số liệu, bảng biểu sơ đồ minh họa [13]. Hoàng Đỗ Quyên (2008), Luận văn thạc sỹ kinh tế (Đại học Kinh tế quốc dân), “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình 7 điện Miền Bắc”. Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc.
Đề tài tập trung chủ yếu vào việc công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các dự án thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý dự án công trình điện [18]. Nguyễn Mạnh Hà (2012), Luận văn Thạc sỹ kinh tế (Đại học Khoa học và Kỹ thuật Long Hoa), "Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng". Đề tài cũng đã đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thời gian vừa qua để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên đề tài cũng mới tập trung nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản nói chung tại một đơn vị quân đội.
Bên cạnh đó phương pháp nghiên cứu vẫn còn sơ sài, không có hệ thống bảng biểu để phân tích đánh giá [15]. Tìm hiểu tổng quan các công trình đã nghiên cứu, tác giả muốn có một cái nhìn tổng thể về quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung. Trong các nghiên cứu trên, vấn đề quản lý dự án đầu tư xây dựng đã được tiếp cận ở những góc độ, những ngành và lĩnh vực cụ thể khác nhau. Tuy nhiên có thể thấy rằng các dự án xây dựng cơ bản tại một cơ quan của Chính phủ có những đặc thù riêng cho nên công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại đây sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác với công tác này ở các doanh nghiệp xây dựng.
Cho đến nay, rất ít nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư xây dựng tại một cơ quan của Chính phủ. Đặc biệt, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể về mặt lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý hữu hiệu các dự án đầu tư xây dựng tại Ban Cơ yếu Chính phủ. Do vậy đề tài “Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tại Ban Cơ yếu Chính phủ” 8 có cách tiếp cận, nội dung và phạm vi nghiên cứu tính không trùng với những đề tài đã công bố, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.Dự án đầu tư xây dựng 1.Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Trước khi tìm hiểu khái niệm “dự án đầu tư xây dựng”, cần bắt đầu từ khái niệm “dự án đầu tư”.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “dư ̣án đầu tư”. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, khái niệm “dự án” được đưa ra để nhấn manḥ một khiá canḥ nào đó. Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ được đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động [23]. Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau [26].
Theo cách hiểu chung nhất:Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Trong dư ̣án, mộtnhóm các co ̂ng việc cólie ̂n quan với nhau đu ̛ợc thực hiẹ ̂n theo mộtquy trình nhất định để đạt đu ̛ợc mục tie ̂u đềra trong điều kiẹ ̂n ràng buộc vềthời gian , nguồn lưc̣ vàngân sách và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ. Từ đó, khái niệm “dự án đầu tư” được phát triển ở Việt Nam. Theo cách tiếp cận của Luật đầu tư (2014), “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Khái niệm này nhấn mạnh vào hoạt động đầu tư vốn trong kinh doanh[19]. Theo Luật Đấu thầu (2013), “Dự án đầu tư bao gồm: chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứu khoa 9 học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác.” [20] Nói cách khác, dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể. Với cách tiếp cận của Luật Đấu thầu, các dự án đầu tư thường được tập trung vào hoạt động sử dụng vốn ngân sách để đạt mục tiêu.
Còn Ngân hàng thếgiới lại đưa ra khái niệm : “Dư ̣án đầu tu ̛là tổng thể các chính sách , hoạt đọ ̂ng vàchi phílie ̂n quan đến nhau đu ̛ợc hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đótrong thời gian nhất đinh”̣ Như vậy, về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuôc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án).
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Theo đó, khái niệm dự án đầu tư xây dựng sẽ có nội hàm nằm trong khái 10 niệm “dự án đầu tư”, tập trung vào lĩnh vực xây dựng. Theo Luật xây dựng, dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.