phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo; Kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng phát triển thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Giải pháp phát triển thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hà Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về thủy điện vừa và nhỏ 1. Khái niệm về thủy điện - Thuỷ điện là nguồn điện có đƣợc từ năng lƣợng nƣớc.
Đa số năng lƣợng thuỷ điện có đƣợc từ thế năng của nƣớc đƣợc tích tại các đập nƣớc làm quay một tuốc bin nƣớc và máy phát điện. Kiểu ít đƣợc biết đến hơn là sử dụng năng lƣợng động lực của nƣớc hay các nguồn nƣớc không bị tích bằng các đập nƣớc nhƣ năng lƣợng thuỷ triều. Thuỷ điện là nguồn năng lƣợng có thể hồi phục. Nguồn: [Bách khoa toàn thư Việt Nam] Thủy điện vừa và nhỏ là các thủy điện đƣợc xây dựng trên lƣu vực các sông suối nhằm tận dụng sức nƣớc ở đây.
Phân loại thuỷ điện vừa và nhỏ là một khái niệm tƣơng đối, tùy theo điều kiện từng nƣớc. Ở nƣớc ta, phân loại thuỷ điện đƣợc quy định theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (TCXDVN số 285 - 2002), theo đó nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ có cấp công trình là cấp IV, cấp III và một phần cấp II.000 kW là công trình cấp IV.000 kW là công trình cấp III.000 kW là một phần công trình cấp II. Theo tổ chức thuỷ điện nhỏ của Liên hiệp quốc (Small Hydropower UNIDO), thuỷ điện nhỏ có công suất từ 200 kW - 10.000 kW, thuỷ điện vừa có công suất từ 10.000 kW, dƣới 200 kW là mini hydropower. - Phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ là một lợi thế về kinh tế của tỉnh nhằm tăng doanh thu hàng năm, mặt khác năng lƣợng điện phát triển tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác trong tỉnh phát triển hơn.
Vai trò, lợi ích của thủy điện vừa và nhỏ 1. Thúc đẩy các khả năng kinh tế: 6 Thông thƣờng các công trình thuỷ điện có vốn đầu tƣ lớn, thời gian xây dựng kéo dài, song hiệu quả cao và tuổi thọ đến 100 năm hoặc lâu hơn nữa. Về lâu dài mà nói thì không có công nghệ năng lƣợng nào rẻ bằng thuỷ điện. Các chi phí vận hành và bảo dƣỡng hàng năm là rất thấp so với vốn đầu tƣ và thấp hơn nhiều so với các nhà máy điện khác.
Các dự án nhỏ và phân tán sẽ đóng vai trò quan trọng trong chƣơng trình điện khí hoá nông thôn, miền núi trên khắp thế giới. Khai phóng tiềm năng thủy điện sẽ mang lại nguồn lợi lớn cho địa phƣơng và cả nƣớc. Thông qua việc phát triển thủy điện, kết cấu hạ tầng khu vực cũng sẽ đƣợc đầu tƣ xây dựng đồng bộ và hiện đại với tốc độ rất nhanh. Bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái: Thuỷ điện sử dụng năng lƣợng của dòng nƣớc để phát điện mà không làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng không làm biến đổi các đặc tính của nƣớc sau khi chảy qua tuabin.
Sau khi các hồ chứa thủy điện vừa và nhỏ đƣa vào tích nƣớc và vận hành, độ ẩm trong đất sẽ đƣợc cải thiện, vi khí hậu trong vùng cũng sẽ mát mẻ hơn, đặc biệt là vùng xung quanh những công trình tạo mặt thoáng lớn. Việc xây dựng các hồ chứa thủy điện vừa và nhỏ sẽ làm tăng độ ẩm của đất, không khí, giúp cho thảm thực vật trên cạn trong vùng phát triển hơn. Sau khi quy hoạch nếu diện tích đất rừng đƣợc mở rộng và đƣợc khoanh nuôi, bảo vệ thì các loài động vật trên cạn sẽ ít bị đe dọa và có thể phát triển tốt hơn. Linh hoạt: Trong cung cấp điện năng, thủy điện là nguồn cung ứng linh hoạt, bởi khả năng điều chỉnh công suất.
Nhờ công suất phủ đỉnh của thủy điện, có thể tối ƣu hóa biểu đồ phụ tải chạy nền bởi các nguồn kém linh hoạt hơn (nhƣ các nhà máy nhiệt điện hoặc điện hạt nhân). Nhà máy thủy điện tích năng làm việc nhƣ acquy, trữ khổng lồ bằng cách tích và xả năng lƣợng theo nhu cầu hệ thống điện. 7 Một ƣu điểm của thủy điện là có thể khởi động và phát đến công suất tối đa chỉ trong vòng vài phút, trong khi nhiệt điện (trừ tuốc bin khí - gas turbine) phải mất vài giờ hay nhiều hơn trong trƣờng hợp điện nguyên tử. Do đó, thủy điện thƣờng dùng để đáp ứng phần đỉnh là phần có yêu cầu cao về tính linh hoạt mang tải.
Vận hành hiệu quả: Nguyên tắc vận hành một nhà máy thủy điện với mục tiêu tối đa hóa lƣợng điện phát ra, đƣợc thể hiện trong ba tiêu chuẩn: thứ nhất là giữ mực nƣớc hồ càng cao càng tốt để tối đa hóa thế năng của nƣớc; thứ hai là duy trì lƣợng nƣớc chạy máy càng nhiều càng tốt, hay nói cách khác là giảm thiểu lƣợng nƣớc xả thừa; cuối cùng là chạy tuốc bin ở điểm có năng suất cao nhất. Trong một thị trƣờng mua bán điện tự do với giá điện theo thị trƣờng, có thể thay đổi từng giờ thì bài toán vận hành hiệu quả nhà máy thủy điện trở thành tối đa hóa lợi nhuận từ bán điện chứ không phải tối đa hóa lƣợng điện phát ra. Cộng thêm yếu tố bất định từ dự báo giá điện, bài toán tối ƣu vận hành nhà máy hay hệ thống thủy điện càng trở nên phức tạp hơn. Dự báo dài hạn lƣợng nƣớc vào hồ, do đó trở nên cần thiết để có thể sử dụng tài nguyên nƣớc một cách hiệu quả nhất cũng nhƣ giảm thiểu những tác động xấu khi hạn hán hay lũ lụt.
Tương đối sạch: So với nhiệt điện, thủy điện cung cấp một nguồn năng lƣợng sạch, hầu nhƣ không phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Góp phần vào phát triển bền vững: Về khía cạnh bền vững, thuỷ năng có tiềm năng rất lớn về bảo tồn hệ sinh thái, cải thiện khả năng kinh tế và tăng cƣờng sự công bằng xã hội. Giảm phát thải khí nhà kính: Bằng cách sử dụng nguồn nƣớc thay vì các loại nhiên liệu hoá thạch (đặc biệt là than), thuỷ điện giảm bớt ô nhiễm môi trƣờng, giảm bớt các trận mƣa axít, giảm axit hoá đất và các hệ thống thủy sinh. Thuỷ điện thải ra rất ít 8 khí hiệu ứng nhà kính so với các phƣơng án phát điện quy mô lớn khác, do vậy làm giảm sự nóng lên của trái đất.
Lƣợng khí nhà kính mà thuỷ điện thải ra nhỏ hơn 10 lần so với các nhà máy tuabin khí chu trình hỗn hợp và nhỏ hơn 25 lần so với các nhà máy nhiệt điện than. Nếu tiềm năng thuỷ năng thực tế còn lại mà đƣợc sử dụng thay cho các nhà máy nhiệt điện đốt nhiên liệu hoá thạch thì hằng năm còn có thể tránh đƣợc 7 tỷ tấn khí thải. Điều này tƣơng đƣơng với việc mỗi năm tránh đƣợc một phần ba các chất khí do con ngƣời thải ra hiện nay hoặc ba lần các khí thải của xe hơi trên hành tinh. Sử dụng nước đa mục tiêu: Thuỷ điện không tiêu thụ lƣợng nƣớc đã dùng để phát điện mà xả lại nguồn nƣớc quan trọng này để sử dụng vào những việc khác.
Hơn nữa, các dự án thuỷ điện còn sử dụng nƣớc đa mục tiêu. Trên thực tế, hầu hết các đập và hồ chứa đều có nhiều chức năng nhƣ: cung cấp nƣớc cho sản xuất lƣơng thực, có thể cải thiện các điều kiện nuôi trông thủy sản và vận tải thủy. Tuy nhiên, lợi ích cục bộ của một nhà máy thủy điện đôi lúc mâu thuẫn với chức năng căn bản của một hồ chứa. Ví dụ, trong mùa khô hạn, nhà máy có thể quyết định ngƣng phát điện trong một thời gian nào đó (nghĩa là không xả nƣớc về hạ lƣu) vì nhiều lý do khác nhau.
Tƣơng tự trong mùa lũ, nhà máy có thể giữ mực nƣớc hồ cao (để tăng công suất phát điện) do đó làm giảm khả năng điều tiết lũ của hồ chứa. Vai trò năng lượng của thủy điện: Hiện nay, thủy điện là nguồn năng lƣợng chính đáp ứng nhu cầu điện quốc gia. Đến nay, các công trình thuỷ điện đã khai thác đƣợc khoảng hơn 4.000 MW, chiếm hơn 40% tổng công suất lắp máy của toàn hệ thống điện quốc gia. Lƣợng nƣớc sử dụng để phát điện từ dung tích hữu ích của các hồ chứa thuỷ điện khoảng hơn 14 tỷ m3.
9 Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét tới năm 2030, Việt Nam tiếp tục ƣu tiên phát triển các nguồn thủy điện, đƣa tổng công suất các nguồn thủy điện từ 14.000 MW hiện nay lên 21. Trong giai đoạn sau đó, tỷ trọng, khi tiềm năng thủy điện đã cơ bản đƣợc sử dụng, thì tỷ trọng thủy điện sẽ giảm xuống. Góp phần phát triển cơ sở hạ tầng: Ngoài ra, thu nhập nhờ bán điện còn cho phép tài trợ cho các nhu cầu hạ tầng cơ sở cơ bản khác, cũng nhƣ để xoá đói giảm nghèo cho những ngƣời dân bị ảnh hƣởng bởi việc xây dựng thuỷ điện và cộng đồng dân cƣ nói chung. Cải thiện công bằng xã hội: Thuỷ điện có tiềm năng rất lớn trong việc cải thiện công bằng xã hội, trong suốt thời gian dự án đƣợc triển khai và quản lý theo cách thức đẩy mạnh sự công bằng giữa các thế hệ hiện tại và tƣơng lai, giữa các cộng đồng bản địa và trong khu vực, giữa các nhóm bị thiệt hại và toàn xã hội nói chung.
Do chi phí đầu tƣ ban đầu cao cho các nhà máy thủy điện đã đƣợc các thế hệ hiện tại trang trải, nên các thế hệ tƣơng lai sẽ nhận đƣợc nguồn điện trong thời gian dài với chi phí bảo trì rất thấp. Doanh thu của các nhà máy thủy điện thƣờng “gánh thêm” phần chí phí cho các ngành sử dụng nƣớc khác nhƣ: nƣớc sinh hoạt, tƣới và chống lũ, do vậy nó trở thành công cụ để chia sẻ nguồn tài nguyên chung một cách công bằng. Các dự án thuỷ điện còn có thể là một công cụ để thúc đẩy sự công bằng giữa các nhóm ngƣời bị thiệt hại và toàn xã hội nói chung, khi thực hiện cả những chƣơng trình di dân và tái định cƣ đƣợc quản lý tốt dẫn đến một sự chia sẻ lợi nhuận để bảo đảm rằng những ngƣời bị thiệt hại sẽ có cuộc sống tốt hơn sau khi dự án hoàn thành so với trƣớc kia.