Tổng quan nghiên cứu

Các tính toán kinh tế lượng cho thấy để tạo ra 1% tăng trưởng kinh tế cần khoảng 0,527% mức gia tăng vốn đầu tư. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đầu những năm 2000, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển trở nên vô cùng cấp thiết. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng vốn của nền kinh tế thời kỳ này rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng khi hơn 80% nguồn vốn phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống tín dụng ngân hàng thương mại. Thị trường chứng khoán mới ở giai đoạn sơ khai, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đến tháng 4 năm 2006 mới đạt khoảng 34.000 tỷ đồng, tương đương gần 4,4% GDP, trong khi thị trường trái phiếu chỉ chiếm khoảng 8-9% GDP.

Trước thực trạng đó, luận văn xác định mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận chung về thị trường vốn, phân tích thực trạng vận hành của thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường tín dụng dài hạn tại Việt Nam. Đồng thời, công trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, các nước Đông Âu và Đông Á nhằm đề xuất hệ thống giải pháp phát triển thị trường vốn toàn diện. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình từ năm 1986 đến năm 2006, tập trung cao độ vào giai đoạn 2000-2006 khi thị trường chứng khoán chính thức vận hành. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện thể chế tài chính, nâng giới hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lên mức 49% và chuẩn bị điều kiện phát hành thành công 750 triệu USD trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 trường phái lý thuyết tài chính lớn trên thế giới: trường phái Pháp (gộp thị trường vốn và thị trường tiền tệ) và trường phái Anh - Mỹ - Đức (tách biệt thị trường tiền tệ ngắn hạn với thị trường vốn trung và dài hạn có kỳ hạn trên 1 năm). Luận văn lựa chọn tiếp cận theo trường phái Anh - Mỹ - Đức để tập trung phân tích 2 cấu phần cốt lõi là thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng dài hạn. Song song đó, tác giả vận dụng lý thuyết tư bản của chủ nghĩa Mác về sự vận động và sinh lời của giá trị thặng dư, khẳng định tiền tệ chỉ trở thành vốn khi được đưa vào chu chuyển đầu tư và quay về điểm xuất phát với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.

Hệ thống lý thuyết chuẩn hóa 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi: Vốn tài chính (hình thái giá trị bằng tiền phục vụ sản xuất kinh doanh), Thị trường vốn (kênh luân chuyển vốn trung và dài hạn giữa chủ thể thừa và thiếu vốn), Công cụ vốn (cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi xác lập quyền đồng sở hữu), Công cụ nợ (trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty xác nhận nghĩa vụ nợ), và Công cụ phái sinh (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền mua trước với thời hạn thực hiện từ vài tuần đến hàng năm).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp chính thức từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng các báo cáo chuyên đề từ Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) và Ngân hàng Thế giới. Tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, đối chiếu lịch sử và phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia kinh tế đầu ngành.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện 45 mã cổ phiếu niêm yết trên hai sàn giao dịch Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 64 doanh nghiệp tham gia đấu giá cổ phần lần đầu (IPO) trong năm 2005, cùng toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng gồm 6 ngân hàng thương mại nhà nước, 38 ngân hàng thương mại cổ phần và 31 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu chủ đích toàn phần trên toàn bộ thực thể chính quy thuộc thị trường vốn giai đoạn 1986-2006. Phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính này được lựa chọn nhằm phản ánh chân thực các biến động chỉ số, sự dịch chuyển dòng vốn và cấu trúc thị trường non trẻ mà không bị sai lệch số liệu thống kê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và thanh khoản thị trường cổ phiếu ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc sau giai đoạn trầm lắng 2002-2003. Giá trị vốn hóa thị trường tăng từ 270 tỷ đồng năm 2000 lên 34.000 tỷ đồng vào tháng 4 năm 2006, chiếm gần 4,4% GDP. Chỉ số VN-Index phục hồi ngoạn mục từ đáy 138,19 điểm tháng 11 năm 2003 lên 239,29 điểm cuối năm 2004 và đóng cửa ở mức 307,50 điểm cuối năm 2005, đạt mức tăng 28,51%. Số lượng tài khoản giao dịch tăng 45% trong năm 2005 đạt 31.000 tài khoản và vượt mốc 52.000 tài khoản vào đầu năm 2006, trong đó có 362 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, hoạt động phát hành và đấu giá cổ phần hóa diễn ra sôi động nhưng nguồn cung hàng hóa chất lượng cao còn khan hiếm. Trong năm 2005, hai sàn giao dịch tổ chức đấu giá thành công cho 64 doanh nghiệp, bán được 310.154 cổ phần (đạt tỷ lệ 88,07%), thu về 4.573,6 tỷ đồng cho Nhà nước và doanh nghiệp, thặng dư 1.468,6 tỷ đồng so với mệnh giá. Dù cả nước đã cổ phần hóa được 2.180 doanh nghiệp nhà nước đến hết năm 2005, nhưng tính đến tháng 7 năm 2006 mới chỉ có 39 công ty niêm yết trong tổng số hơn 5.000 công ty cổ phần.

Thứ ba, thị trường trái phiếu phát triển mất cân đối nghiêm trọng. Tổng giá trị phát hành trái phiếu đạt khoảng 70.000 tỷ đồng, trong đó trái phiếu chính phủ chiếm tới 80% (riêng giai đoạn 2001-2005 huy động gần 60.000 tỷ đồng). Tổng quy mô thị trường trái phiếu chỉ đạt 8-9% GDP, quá khiêm tốn so với mức 30-40% GDP của Thái Lan, Malaysia và 80% GDP của Mỹ hay Nhật Bản. Trái phiếu doanh nghiệp chỉ đạt trên 2.000 tỷ đồng, trong khi hơn 80% trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm bị các ngân hàng thương mại mua và nắm giữ đến khi đáo hạn, làm thanh khoản thứ cấp bị đóng băng.

Thứ tư, thị trường cổ phiếu phi tập trung (OTC) hoạt động tự phát với quy mô giao dịch ước tính trên 1 tỷ USD và hơn 200 loại cổ phiếu chưa niêm yết, tiềm ẩn nhiều rủi ro thanh toán ngoài tầm kiểm soát.

Thảo luận kết quả

Sự mất cân đối của thị trường vốn xuất phát từ việc các doanh nghiệp nhà nước vẫn ỷ lại vào dòng vốn tín dụng chỉ định và nguồn cấp phát ngân sách. Các ngân hàng thương mại nắm giữ phần lớn trái phiếu chính phủ thay vì đóng vai trò trung gian phân phối, dẫn tới thiếu vắng thanh khoản thị trường thứ cấp.

So sánh với bài học quốc tế, Trung Quốc đã thành công khi ban hành quy chế chứng khoán hóa nợ xấu vào tháng 4 năm 2005 và tách chức năng kinh doanh chứng khoán khỏi ngân hàng thương mại. Thái Lan xây dựng thành công đường cong lãi suất chuẩn với kỳ hạn trái phiếu chính phủ đa dạng từ dưới 1 năm đến 15 năm và bắt buộc định mức tín nhiệm đối với các lô phát hành trên 100 triệu Baht. Nếu các dữ liệu phân tích được trình bày qua biểu đồ cột so sánh tỷ trọng thị trường trái phiếu trên GDP giữa các nước ASEAN và đồ thị đường biểu diễn biến động VN-Index giai đoạn 2001-2006, người đọc sẽ thấy rõ độ lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý và mở rộng tiếp cận thị trường. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính triển khai thi hành Luật Chứng khoán năm 2006 có hiệu lực từ ngày 1/1/2007; áp dụng triệt để Thông tư 90/2005/TT-BTC nhằm duy trì trần sở hữu 49% cho nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp niêm yết và thực hiện cơ chế nới lỏng chuyển vốn theo Quyết định 1550/QĐ-NHNN trong giai đoạn 2007-2010. Mục tiêu cụ thể là nâng tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 15-20% GDP vào năm 2010.

Thứ hai, đẩy mạnh tạo nguồn hàng chất lượng qua cổ phần hóa gắn với niêm yết. Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp và các Bộ chủ quản cần bắt buộc 16 Tổng công ty lớn thuộc danh mục Quyết định 528/QĐ-TTg thực hiện đấu giá cổ phần công khai và niêm yết tập trung ngay sau cổ phần hóa trong lộ trình 2006-2008. Mục tiêu nâng số lượng doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn từ 45 doanh nghiệp lên tối thiểu 100 doanh nghiệp quy mô lớn trước năm 2008.

Thứ ba, tái cấu trúc thị trường trái phiếu và hình thành đường cong lãi suất chuẩn. Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước cần tổ chức phát hành định kỳ trái phiếu chính phủ các kỳ hạn 2, 3, 5, 10 và 15 năm theo lịch biểu hàng quý; đồng thời cấp phép thành lập 1 đến 2 cơ quan định mức tín nhiệm độc lập trong giai đoạn 2007-2009. Mục tiêu nâng quy mô thị trường trái phiếu từ mức 8-9% GDP lên 20% GDP vào năm 2010.

Thứ tư, tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng và thí điểm chứng khoán hóa nợ xấu. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo 6 ngân hàng thương mại nhà nước và các ngân hàng cổ phần áp dụng đầy đủ 25 nguyên tắc giám sát an toàn của Ủy ban Basel, đồng thời xây dựng đề án chứng khoán hóa nợ xấu giai đoạn 2007-2010. Mục tiêu hạ tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống xuống dưới 3% và giảm áp lực cấp tín dụng dài hạn từ khu vực ngân hàng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách kinh tế (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). Nhóm đối tượng này có thể sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng lộ trình thực thi cam kết tài chính khi gia nhập WTO, điều hành chính sách tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài 49% và chuẩn hóa hệ thống quản lý thị trường theo tiêu chuẩn quốc tế của IOSCO.

Thứ hai, Lãnh đạo các Doanh nghiệp Nhà nước và Công ty Cổ phần quy mô lớn. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về quy trình tổ chức đấu giá IPO, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chuyển đổi nhằm đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn, giảm thiểu phụ thuộc vào hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Thứ ba, Các Định chế tài chính trung gian (Công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư, Ngân hàng thương mại). Luận văn mang lại các góc nhìn phân tích sâu về nghiệp vụ repo trái phiếu, chiến lược phân bổ danh mục đầu tư và mô hình xử lý nợ xấu thông qua kỹ thuật chứng khoán hóa tài sản tín dụng.

Thứ tư, Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị, cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thị trường vốn, bộ dữ liệu lịch sử giai đoạn 2000-2006 và các bài học so sánh kinh tế quốc tế từ Đông Âu và Đông Á.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường vốn có vai trò cốt lõi như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam? Thị trường vốn đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho nền kinh tế. Ước tính để đạt 1% tăng trưởng GDP cần khoảng 0,527% mức gia tăng vốn đầu tư. Thị trường vốn phát triển lành mạnh giúp giảm tải rủi ro mất cân đối kỳ hạn cho 6 ngân hàng thương mại nhà nước, hạ thấp chi phí vốn và thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ cho doanh nghiệp.

Luật Chứng khoán năm 2006 có ý nghĩa đột phá gì đối với thị trường tài chính? Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 23/6/2006 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2007, tạo dựng hành lang pháp lý chuẩn mực tương thích với các cam kết WTO và Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Đạo luật này bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, chuẩn hóa nghiệp vụ cho 14 công ty chứng khoán và 9 công ty quản lý quỹ, thúc đẩy thị trường minh bạch.

Tại sao thị trường trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2001-2005 phát triển rất chậm? Thị trường trái phiếu doanh nghiệp thời kỳ này chỉ đạt trên 2.000 tỷ đồng, chiếm chưa đầy 3% tổng giá trị trái phiếu do doanh nghiệp vẫn quen dựa vào vốn vay ngân hàng và sự bao cấp của Nhà nước. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt tổ chức định mức tín nhiệm độc lập và thủ tục phát hành phức tạp khiến các doanh nghiệp lớn như Tổng công ty Dầu khí hay Sông Đà chưa mặn mà mở rộng.

Việt Nam có thể học hỏi bài học gì từ Trung Quốc trong phát triển thị trường vốn? Việt Nam cần tiếp thu kinh nghiệm tách bạch hoạt động kinh doanh chứng khoán ra khỏi ngân hàng thương mại và ban hành quy chế thí điểm chứng khoán hóa nợ xấu từ năm 2005 của Trung Quốc. Giải pháp này giúp giải phóng nguồn dự phòng rủi ro tại các ngân hàng, biến các khoản nợ xấu thành công cụ tài chính có thanh khoản và phân tán rủi ro tín dụng.

Việc nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lên 49% mang lại tác động gì? Theo Thông tư 90/2005/TT-BTC, việc nâng trần sở hữu ngoại từ 30% lên 49% đã tạo cú hích lớn thu hút dòng vốn FII. Số tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng gấp đôi lên 362 tài khoản đầu năm 2006, đồng thời củng cố niềm tin quốc tế giúp Việt Nam phát hành thành công 750 triệu USD trái phiếu chính phủ quốc tế với lãi suất danh nghĩa 6,875%/năm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận thị trường vốn theo trường phái Anh - Mỹ - Đức, phân định rõ nét cấu phần thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường tín dụng dài hạn.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng thị trường vốn Việt Nam giai đoạn 2000-2006 với mức vốn hóa 34.000 tỷ đồng (4,4% GDP) và 45 mã cổ phiếu niêm yết.
  • Chỉ ra điểm nghẽn cơ cấu nghiêm trọng khi thị trường trái phiếu chỉ đạt 8-9% GDP và hệ thống ngân hàng thương mại nắm giữ tới 80% trái phiếu chính phủ.
  • Rút ra hệ thống bài học kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Đông Âu về chứng khoán hóa nợ xấu và xây dựng đường cong lãi suất chuẩn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với thực thi Luật Chứng khoán 2006 và lộ trình cam kết gia nhập WTO.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn giúp cân bằng cơ cấu thị trường tài chính quốc gia. Lộ trình triển khai tiếp theo được phân kỳ rõ ràng: giai đoạn 2007-2008 tập trung hoàn thiện pháp lý và đưa 16 Tổng công ty lớn lên sàn niêm yết; giai đoạn 2009-2010 thiết lập cơ quan định mức tín nhiệm và thí điểm chứng khoán hóa nợ xấu. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp hãy khai thác ngay những phát hiện và khuyến nghị từ công trình này để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.