Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh của Tổng Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Hợp Nhất trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh của Tổng Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Hợp Nhất trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG DỊCH VỤ CHUYỂN PHÁT NHANH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Chuyển phát nhanh và tính tất yếu của việc phát triển thị trƣờng dịch vụ chuyển phát nhanh. Khái niệm về dịch vụ chuyển phát nhanh. Dịch vụ chuyển phát nhanh là dịch vụ chuyển phát có chất lượng cao, với thời gian nhanh nhất và chính xác, việc thực hiện dịch vụ này được thông qua các khâu thu gom,vận chuyển và phát thư tín , tài liệu hoặc các hàng hoá trong thời gian ngắn nhất. Quá trình thu gom, khai thác, vận chuyển, được thực hiện bằng phương pháp tổ chức và các phương tiện hiện đại, gọn nhẹ.
Theo HNC dịch vụ chuyển phát nhanh là loại dịch vụ nhận gửi, vận chuyển và phát các loại thư, tài liệu, vật phẩm hàng hoá theo chỉ tiêu thời gian được HNC công bố trước. Các loại hình chuyển phát nhanh và đặc điểm của nó. * Phân loại dịch vụ chuyển phát nhanh: Căn cứ vào vị trí địa lý, dịch vụ chuyển phát nhanh được chia làm hai loại dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước và dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. Dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước là dịch vụ chuyển phát nhanh được cung cấp tại các bưu cục tỉnh, thành phố giữa người gửi và người nhận có đủ điều kiện phục vụ theo quy định của HNC.
Dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế là loại dịch vụ chuyển phát nhanh, quá trình thực hiện chuyển phát được tiến hành giữa người Việt Nam với các nước khác theo thoả thuận giữa HNC và bưu chính các nước theo quy định của liên minh bưu chính thế giới. 6 Căn cứ theo nội dung vật phẩm, hàng hoá dịch vụ chuyển phát nhanh có thể phân loại như sau: Dịch vụ chuyển phát nhanh chứng từ tài liệu…đây là dịch vụ chuyển phát nhanh các loại giấy tờ, những loại giấy tờ này không bị đánh thuế, và do đó ít khi phải làm thủ tục hải quan. Dịch vụ chuyển phát nhanh gói hàng, kiện hàng đây là dịch vụ chuyển phát nhanh các gói hàng, kiện hàng hay còn gọi là dịch vụ chuyển phát nhanh các loại bưu kiện. những loại hàng này thường bị đánh thuế.
Dịch vụ chuyển phát nhanh các loại hàng nặng, cồng kềng. đối tượng tham gia chuyển phát là các loại hàng hoá cồng kềng, hàng hoá đặc biệt. * Các đặc tính cơ bản của dịch vụ chuyển phát nhanh: Bưu phẩm chuyển phát nhanh được đặc biệt ưu tiên xử lý từ khi nhận gửi đến khi phát, để chuyển bưu phẩm tới người nhận trong thời gian ngắn nhất Dịch vụ chuyển phát nhanh được phục vụ ngay tại địa chỉ người gửi (nếu người gửi yêu cầu), phát đến tận tay người nhận, phát theo địa chỉ được thoả thuận trước. Sau khi phát, phiếu báo phát ví ngày giờ phát và chữ ký của người nhận sẽ được chuyển lại cho người gửi.
Người gửi có thể rút bưu phẩm, thay đổi họ tên địa chỉ người nhận, khiếu nại và yêu cầu bồi thường nếu dịch vụ CPN không đạt các chỉ tiêu đã công bố. Giới hạn khối lượng và kích thước của bưu phẩm chuyển phát nhanh: Quy trình khai thác bưu phẩm chuyển phát nhanh của HNC quy định như sau: Khối lượng tối đa cho một bưu phẩm chuyển phát nhanh gửi trong nước là 31. 7 Bưu phẩm gửi đi nước ngoài là 30kg. Tuy nhiên còn phụ thuộc vào sự thoả thuận của nước nhận mà khối lượng của bưu phẩm chuyển phát nhanh thấp hơn hoặc tới 31.
Kích thước tối đa của bưu phẩm chuyển phát nhanh gửi trong nước và ra nước ngoài được quy định: chiều dài không vượt quá 1,5m, tổng chiều dài cộng với chu vi lớn nhất của bưu phẩm không vượt quá 3m. Cước phí chuyển phát nhanh cao hơn so với cước phí chuyển thông thường, giá cước do các đơn vị kinh doanh tự đưa ra tuy nhiên phải tuân theo qui định của ngành bưu chính ( một bưu phẩm chuyển phát nhanh có giá không được thấp hơn 8,000 VNĐ) Bưu phẩm chuyển phát nhanh phải đảm bảo tính chính xác, tuyệt đối an toàn, nhanh chóng, kịp thời và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng 1. Các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hƣởng đến quá trình phát triển thị trƣờng dịch vụ chuyển phát nhanh 1.Tác động của việc gia nhập WTO đối với ngành vận tải nói chung và ngành chuyển phát nhanh nói riêng Trải qua gần 12 năm ròng rã với biết bao công sức, trí tuệ cho quá trình đàm phán cùng với những thành tựu về cải cách kinh tế, cải cách hành chính trong nước, cuối cùng chúng ta đã đạt được mục tiêu quan trọng là gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 và các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực.
Nói theo cách ví von thì Việt Nam đã bước vào "sân chơi chung" của thế giới hay con tàu Việt Nam đã đi ra biển lớn. Nền kinh tế Việt Nam nói chung, ngành Chuyển phát nhanh nói riêng và hoạt động của cả bộ máy nhà nước sẽ chịu những tác động nhất định, đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận thức đúng đắn để vượt qua thách thức và tận dụng tốt cơ hội thì mới có 8 thể đưa đất nước phát triển bền vững trong sân chơi toàn cầu với luật chơi chặt chẽ. Trước hết là tác động đối với hoạt động quản lý Nhà nước. Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết tuân thủ đa số các hiệp định là nghĩa vụ bắt buộc kể từ ngày gia nhập, một số hiệp định có thời gian quá độ nhưng không dài.
Cam kết này là một thách thức rất lớn đối với bộ máy nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước nói chung. Để thực hiện được các hiệp định của WTO chúng ta phải có một cuộc "cách mạng" để thay đổi tư duy và phong cách làm việc đã tồn tại bao nhiêu năm vì nó đã trở thành lực cản trong quá trình đổi mới của đất nước và thay đổi được không phải là điều dễ thực hiện. Một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là không phân biệt đối xử (dựa trên nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia); các cán bộ, công chức thuộc các cơ quan nhà nước liên quan đến việc xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật phải nghiên cứu và hiểu rõ về nguyên tắc này để không vi phạm quy định của WTO. Nguyên tắc minh bạch hóa theo quy định của WTO cũng là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động của ngành bưu chính Về lĩnh vực vận tải.
Theo phân loại của WTO thì vận tải là một ngành dịch vụ bao gồm các phân ngành: vận tải đường biển (VTB), vận tải đường thủy nội địa, vận tải hàng không, vận tải bằng kinh khí cầu, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống, dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải và các dịch vụ vận tải khác; mỗi phân ngành lại chia nhỏ thành nhiều tiểu ngành. Hiện tại pháp luật Việt Nam mới có quy định về 6 phân ngành trong tổng số 9 phân ngành vận tải nói trên. WTO là tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh có chức năng thúc đẩy tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu (gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ), trong đó dịch vụ vận tải đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thương mại hàng hóa quốc tế. Mọi người đều biết rằng vận tải càng nhanh với chi phí càng thấp thì hiệu quả của 9 thương mại hàng hóa quốc tế càng cao.
Chính vì vậy, các nước thành viên WTO rất quan tâm đến việc tự do hóa thị trường dịch vụ vận tải, đặc biệt là dịch vụ VTB và các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải như dịch vụ xếp dỡ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa (kể cả dịch vụ giao nhận) và dịch vụ kho bãi. Trong số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ có yêu cầu đàm phán song phương với Việt Nam thì có tới 11 đối tác yêu cầu đàm phán về dịch vụ vận tải (bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Nauy, Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Canada, úc, New Zealands, Chinese Taipei). Các đối tác đưa ra yêu cầu rất cao về mở cửa thị trường dịch vụ vận tải, nhất là dịch vụ VTB cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Cam kết về dịch vụ VTB của Việt Nam tương đối cao, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của từng cam kết đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của thị trường cung cấp dịch vụ đó; ví dụ về vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển, chúng ta cam kết "không hạn chế", nhưng xét về thực chất cam kết này không tác động nhiều đến các doanh nghiệp VTB của Việt Nam vì trên thực tế thị trường này vẫn do các hãng tàu nước ngoài chiếm thị phần chủ yếu.
Các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực đại lý vận tải hàng hóa đường biển và đại lý tàu biển sẽ bị tác động nhiều nhất do chúng ta cam kết cho phép các công ty VTB nước ngoài được thành lập công ty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 51% ngay từ khi gia nhập và được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để thực hiện các hoạt động liên quan đến hàng hóa do chính công ty đó vận chuyển bằng đường biển đi, đến Việt Nam nhằm mục đích cung cấp dịch vụ trọn gói cho khách hàng của họ. Điểm quan trọng của cam kết này là các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài do công ty VTB nước ngoài thành lập chỉ được phép thực hiện các hoạt động phục vụ cho chính công ty mẹ, không được phép cung cấp dịch vụ cho khách hàng khác. Các công ty VTB nước ngoài vận chuyển hàng hóa đi, đến 10 Việt Nam không thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam thì vẫn phải sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong hai lĩnh vực nói trên.