Tổng quan nghiên cứu

Chiến lược Quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định công tác phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ trọng yếu nhằm bảo vệ công lý và quyền con người. Trong hệ thống pháp luật hình sự, việc xác định ranh giới giữa hành vi phạm tội và hành vi hợp pháp có ý nghĩa sống còn đối với công lý xã hội. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có bước đột phá lớn khi lần đầu tiên dành riêng Chương IV để quy định 7 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (từ Điều 20 đến Điều 26), tăng khoảng 75% số chế định so với 4 trường hợp quy định phân tán tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ thực tiễn áp dụng pháp luật, khi nhiều hành vi về hình thức gây thiệt hại cho xã hội nhưng về bản chất lại chứa đựng yếu tố có ích, phục vụ lợi ích công cộng hoặc bảo vệ quyền chính đáng của công dân. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong giai đoạn 10 năm từ 2010 đến 2019, đồng thời đối chiếu kinh nghiệm quốc tế để đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật. Nghiên cứu tập trung khảo sát thực tiễn xét xử trên phạm vi toàn quốc với trọng tâm là giai đoạn 03 năm từ 2017 đến 2019. Kết quả nghiên cứu góp phần trực tiếp nâng cao tỷ lệ xét xử đúng người, đúng tội, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối đa nguy cơ oan sai xuống dưới mức 0,5% và cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của học thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự hiện đại và lý thuyết về trách nhiệm pháp lý. Cấu thành tội phạm được xem xét toàn diện trên ba bình diện: khách quan, pháp lý và chủ quan với 5 dấu hiệu cơ bản. Trên cơ sở đó, luận văn làm rõ 5 khái niệm trọng tâm bao gồm: loại trừ trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ và năng lực trách nhiệm hình sự.

Luận văn xây dựng mô hình phân loại 7 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự thành 2 nhóm khoa học:

  • Nhóm các trường hợp không có cơ sở của trách nhiệm hình sự: Gồm sự kiện bất ngờ (thiếu yếu tố lỗi chủ quan) và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (thiếu yếu tố chủ thể).
  • Nhóm các trường hợp làm mất cơ sở của trách nhiệm hình sự: Gồm phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và thi hành mệnh lệnh cấp trên. Ở nhóm này, hành vi tuy gây thiệt hại nhưng có tính hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận và khuyến khích thực hiện vì lợi ích chung.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hơn 150 bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp. Trong đó, tác giả khảo sát chuyên sâu mẫu nghiên cứu gồm 36 vụ án điển hình về các tội danh liên quan đến vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126 và Điều 136 Bộ luật Hình sự) trong giai đoạn 03 năm từ 2017 đến 2019, kết hợp số liệu thống kê tại các Tòa án nhân dân cấp cao từ năm 2015 đến năm 2018.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm tập trung vào các hồ sơ vụ án có tranh chấp phức tạp về ranh giới phòng vệ, tình trạng cấp thiết và kết luận giám định tâm thần tư pháp. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp luật học so sánh đối với 3 hệ thống pháp luật lớn (Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga và Cộng hòa Liên bang Đức) vì phương pháp này cho phép nhận diện rõ ràng các khoảng trống lập pháp và đánh giá tính tương thích của luật thực định Việt Nam với chuẩn mực quốc tế trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc bổ sung 3 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (gây thiệt hại khi bắt giữ tội phạm; rủi ro khoa học công nghệ; thi hành mệnh lệnh) đã tạo hành lang an toàn vững chắc, giúp giảm khoảng 25% nguy cơ hình sự hóa các rủi ro nghề nghiệp và hoạt động sáng tạo công nghệ trong thực tiễn.

Thứ hai, qua phân tích số liệu xét xử trong giai đoạn 2017 - 2019, có tới khoảng 78% số vụ án xem xét phòng vệ chính đáng đã bị cơ quan tiến hành tố tụng chuyển hóa thành tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126 và Điều 136). Nguyên nhân chủ yếu là do tiêu chí đánh giá tính "cần thiết" của hành vi chống trả hoàn toàn mang tính định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của người tiến hành tố tụng.

Thứ ba, vướng mắc trong việc xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự chiếm khoảng 15% tổng số hồ sơ phức tạp tại các Tòa án cấp cao. Dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lý chưa được kết nối đồng bộ giữa cơ quan giám định pháp y tâm thần và cơ quan tố tụng, dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian xử lý vụ án.

Thứ tư, khảo sát thực tiễn cho thấy hơn 85% cán bộ áp dụng pháp luật tại địa phương gặp lúng túng khi xử lý các trường hợp sự kiện bất ngờ do khó phân định với lỗi vô ý vì cẩu thả, tiềm ẩn nguy cơ xử lý không nhất quán.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng các văn bản hướng dẫn định lượng từ cơ quan có thẩm quyền. Dữ liệu nghiên cứu được minh chứng và trực quan hóa thông qua hệ thống 4 bảng biểu chuyên sâu trong luận văn, bao gồm bảng phân biệt sự kiện bất ngờ với lỗi vô ý do cẩu thả, bảng thống kê xét xử tội danh Điều 126 và Điều 136, bảng phân tích số lượng bị cáo và bảng cơ cấu nhân thân người phạm tội qua các biểu đồ hình cột so sánh tỷ lệ chuyển hóa tội danh theo từng năm.

Khi đối chiếu với quy định của quốc tế, Điều 37 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga khẳng định quyền tự vệ được áp dụng bình đẳng cho mọi công dân mà không đòi hỏi họ phải tìm cách bỏ chạy hay kêu cứu. Đồng thời, Điều 20 Bộ luật Hình sự Trung Hoa quy định miễn trừ tuyệt đối trách nhiệm hình sự khi chống trả các tội phạm bạo lực nguy hiểm như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm. So sánh này cho thấy pháp luật Việt Nam cần sớm bổ sung các quy định phòng vệ đặc biệt để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của công dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần khẩn trương ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 trước quý IV năm 2021, nhằm chuẩn hóa 100% các tiêu chí định lượng về sự "chống trả một cách cần thiết" và ranh giới của tình thế cấp thiết.

Thứ hai, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiến hành rà soát, sửa đổi Bộ luật Hình sự trong giai đoạn 2022 - 2025, bổ sung điều khoản định nghĩa chính thức về loại trừ trách nhiệm hình sự tại Phần chung, đồng thời luật hóa quy định không coi là vượt quá giới hạn phòng vệ đối với các trường hợp chống trả hành vi xâm phạm tính mạng nghiêm trọng.

Thứ ba, Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao hoàn thiện quy trình giám định pháp y tâm thần tư pháp trong giai đoạn 2021 - 2023, phấn đấu rút ngắn thời gian giám định trung bình xuống dưới 30 ngày và đạt độ chuẩn xác nghiệp vụ trên 98%.

Thứ tư, Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo luật tổ chức định kỳ hơn 50 đợt tập huấn nghiệp vụ hàng năm cho trên 5.000 Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên trên cả nước, nhằm giảm tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do đánh giá sai tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự xuống dưới 0,5%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng: Luận văn cung cấp khung lý thuyết chuẩn xác và hệ thống tiêu chí so sánh, giúp giải quyết triệt để các vụ án phức tạp, loại trừ hoàn toàn nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

Thứ hai, Luật sư và chuyên gia tư vấn pháp lý: Tận dụng các dữ liệu thực tiễn 10 năm và lập luận so sánh quốc tế để xây dựng luận cứ bào chữa thuyết phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ trong các vụ việc liên quan đến phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết.

Thứ ba, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật hình sự: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao với hơn 100 trích dẫn chuyên sâu, phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy các học phần Phần chung Luật Hình sự và Luật Hình sự so sánh.

Thứ tư, Cán bộ lực lượng vũ trang nhân dân và người dân: Nắm vững các quy định pháp luật về giới hạn tự vệ, quyền gây thiệt hại khi bắt giữ tội phạm và nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh để an tâm thực hiện quyền công dân, chủ động tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Câu hỏi thường gặp

Điểm mới quan trọng nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015 về loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Bộ luật Hình sự năm 2015 lần đầu tiên quy định riêng Chương IV gồm 7 điều luật (Điều 20 đến Điều 26), tăng thêm 3 trường hợp mới so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều này tạo hành lang pháp lý toàn diện bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và khuyến khích công dân tích cực đấu tranh chống tội phạm.

Làm thế nào để phân biệt sự kiện bất ngờ với lỗi vô ý do cẩu thả trong thực tiễn? Sự kiện bất ngờ xảy ra khi người thực hiện hành vi hoàn toàn không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại do yếu tố khách quan, do đó không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người gây thiệt hại có đầy đủ điều kiện và nghĩa vụ pháp lý phải thấy trước hậu quả nhưng do cẩu thả nên đã không nhận thức được.

Một người mắc bệnh tâm thần gây thiệt hại có đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự? Căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015, người mắc bệnh tâm thần chỉ được loại trừ trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: dấu hiệu y học (mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác) và dấu hiệu tâm lý (mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi). Tình trạng này bắt buộc phải được kết luận thông qua thủ tục giám định pháp y tâm thần tư pháp theo luật định.

Hành vi chống trả như thế nào thì bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng? Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Nếu hành vi vượt quá giới hạn làm chết người hoặc gây tổn hại sức khỏe từ 31% trở lên, người thực hiện sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 126 hoặc Điều 136 Bộ luật Hình sự nhưng được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kinh nghiệm quốc tế về quyền phòng vệ chính đáng có điểm gì tiến bộ đáng học hỏi? Bộ luật Hình sự Trung Quốc tại Điều 20 cho phép người phòng vệ được sử dụng mọi biện pháp, kể cả gây tử vong cho kẻ tấn công khi đối mặt với các tội phạm bạo lực nghiêm trọng như giết người, cướp tài sản. Bộ luật Hình sự Liên bang Nga tại Điều 37 công nhận quyền tự vệ vô điều kiện, không phụ thuộc vào việc nạn nhân có cơ hội bỏ chạy hay cầu cứu người khác hay không.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và bản chất pháp lý của 7 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Đúc kết các bài học lập pháp so sánh giá trị từ 3 quốc gia có hệ thống tư pháp phát triển: Trung Quốc, Liên bang Nga và Cộng hòa Liên bang Đức.
  • Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật qua dữ liệu thực tiễn 10 năm (2010 - 2019) và khảo sát chuyên sâu 36 vụ án điển hình giai đoạn 2017 - 2019.
  • Kiến nghị 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng tư pháp hình sự đến năm 2025.
  • Cung cấp nguồn tài liệu học thuật và cẩm nang thực tiễn chuẩn mực cho công tác lập pháp, xét xử và đào tạo luật học tại Việt Nam.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Việt Nga là công trình khoa học tiên phong, làm sáng tỏ các vướng mắc lý luận và thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu không thể thiếu đối với các nhà nghiên cứu, cán bộ tư pháp và cộng đồng học thuật pháp lý. Hãy tham khảo và áp dụng ngay các luận cứ khoa học từ công trình này để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và thực thi công lý.