Luận văn: Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt Nam

Khám phá luận văn thạc sĩ UEB về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, phân tích và đánh giá chi tiết.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

123
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam

Luật hình sự Việt Nam quy định rõ ràng về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS). Những quy định này không chỉ giúp xác định hành vi nào được coi là tội phạm mà còn tạo ra ranh giới rõ ràng giữa hành vi hợp pháp và hành vi vi phạm pháp luật. Việc hiểu rõ về loại trừ TNHS là rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo công lý trong xã hội.

1.1. Khái niệm loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam

Khái niệm loại trừ TNHS được hiểu là những trường hợp mà hành vi của cá nhân không bị coi là tội phạm, mặc dù có dấu hiệu của tội phạm. Điều này giúp phân biệt rõ ràng giữa hành vi vi phạm và hành vi không vi phạm pháp luật.

1.2. Ý nghĩa của việc quy định loại trừ TNHS

Việc quy định loại trừ TNHS có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, đồng thời tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan thực thi pháp luật trong việc xử lý các vụ án hình sự.

II. Các trường hợp loại trừ TNHS theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định rõ ràng về các trường hợp loại trừ TNHS, bao gồm phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, và một số trường hợp khác. Những quy định này giúp đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

2.1. Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết

Phòng vệ chính đáng là hành vi bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân hoặc người khác trước một mối đe dọa. Tình thế cấp thiết là trường hợp mà hành vi được thực hiện nhằm ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn.

2.2. Các trường hợp loại trừ khác

Ngoài phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết, còn có các trường hợp như sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực TNHS, và thi hành mệnh lệnh của cấp trên.

III. Thực tiễn áp dụng quy định về loại trừ TNHS

Thực tiễn áp dụng quy định về loại trừ TNHS cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc áp dụng không thống nhất có thể dẫn đến những bất công trong xử lý các vụ án hình sự. Cần có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng các quy định này.

3.1. Những kết quả đạt được trong thực tiễn

Nhiều trường hợp đã được giải quyết hợp lý nhờ vào quy định về loại trừ TNHS, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo công lý.

3.2. Tồn tại và bất cập trong thực tiễn áp dụng

Tồn tại nhiều bất cập trong việc áp dụng quy định về loại trừ TNHS, dẫn đến sự không đồng nhất trong các quyết định của các cơ quan tố tụng.

IV. Kiến nghị hoàn thiện quy định về loại trừ TNHS

Để nâng cao hiệu quả của quy định về loại trừ TNHS, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

4.1. Cần có hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp loại trừ

Cần có các hướng dẫn cụ thể để các cơ quan thực thi pháp luật có thể áp dụng một cách thống nhất và chính xác.

4.2. Tăng cường công tác giám định pháp y tâm thần

Nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của các cơ quan chuyên môn về giám định pháp y tâm thần để đảm bảo tính chính xác trong việc xác định năng lực TNHS.

V. Kết luận về loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam

Những quy định về loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này để đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong xử lý các vụ án hình sự.

5.1. Tương lai của quy định loại trừ TNHS

Tương lai của quy định loại trừ TNHS cần được định hình rõ ràng hơn để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội.

5.2. Vai trò của các cơ quan thực thi pháp luật

Các cơ quan thực thi pháp luật cần có trách nhiệm trong việc áp dụng đúng đắn các quy định về loại trừ TNHS để bảo vệ quyền lợi của công dân.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề chung về loại trừ TNHS trong luật hình sự. Quy định của BLHS năm 2015 về những trường hợp loại trừ TNHS và thực tiễn áp dụng. Tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về những trường hợp loại trừ TNHS và các giải pháp bảo đảm áp dụng.

8 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm loại trừ TNHS trong luật hình sự Việt Nam Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực nhất, có tính lịch sử và tính giai cấp. Việc quy định một hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội phạm phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị xã hội, phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn nhất định.

Từ trước đến nay, quan điểm của các nhà khoa học về khái niệm, dấu hiệu (đặc điểm) của tội phạm, cũng như sự ghi nhận khái niệm tội phạm trong luật hình sự của mỗi quốc gia không hoàn toàn thống nhất với nhau. Việc nghiên cứu khái niệm tội phạm và định nghĩa khái niệm tội phạm luôn được các nhà nghiên cứu luật học cũng như nhà lập pháp hình sự quan tâm; đồng thời “một loạt những vấn đề liên quan đến TNHS (như: TNHS của một công dân được đặt ra khi nào, tại sao một công dân lại phải chịu TNHS, trình tự xác định TNHS đối với một công dân ra sao, từ thời điểm nào TNHS bắt đầu được thực hiện, việc thực hiện TNHS trải qua mấy giai đoạn, hậu quả pháp lý của người đã bị truy cứu TNHS là gì, khi một người thực hiện hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng trong những trường hợp nào thì không có TNHS, v.v…) vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến và cách hiểu khác nhau, mà vẫn chưa có một quan điểm chính thống” [4, tr. Tác giả luận văn đồng tình với quan điểm khoa học về khái niệm tội phạm mà trong đó phản ánh được tổng thể, đầy đủ bản chất của khái niệm trên ba bình diện - gồm bình diện khách quan (nội dung), bình diện pháp lý (hình thức) và bình diện chủ quan:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã 9 hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị luật hình sự cấm), do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” [4, tr.119]; hoặc theo cách diễn đạt “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ” [52, tr. Theo đó, hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua năm dấu hiêu gồm có: - Về mặt khách quan (đồng thời chỉ ra bản chất xã hội): Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến các quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ (1).

- Về mặt pháp lý (đồng thời chỉ ra bản chất pháp lý): Tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự (2). - Về mặt chủ quan: Tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS (3) và đủ tuổi chịu TNHS (4) thực hiện một cách có lỗi (5) [4, tr. Tương ứng theo những đặc điểm (dấu hiệu) nội tại nêu trên của tội phạm, để truy cứu TNHS - với tính chất là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm - đối với một người, cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm xác định và chứng minh đầy đủ tất cả những điều kiện cần và đủ, có tính chất bắt buộc, do luật hình sự quy định và khi đã thỏa mãn các điều kiện đó thì vấn đề chịu TNHS mới được đặt ra. Như vậy, một người chỉ có thể bị truy cứu TNHS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: - Đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ (1).

- Hành vi đó được BLHS quy định là tội phạm (2). 10 - Người đó có năng lực TNHS, tức là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình (3). - Người đó đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS (4). - Người đó có lỗi (cố ý hoặc vô ý theo quy định của BLHS) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đó (5).

Như vậy, những điều kiện của TNHS tương ứng với những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm. Năm đặc điểm cơ bản của tội phạm có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau, tương tự như vậy, năm điều kiện nêu trên của TNHS cũng có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng thì một người mới phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình đã thực hiện. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, chúng ta gặp không ít trường hợp mà về hình thức, một hành vi của con người có các dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng trong hành vi đó lại chứa đựng một số tình tiết đặc biệt nhất định, nên hành vi ấy không bị coi là tội phạm, thậm chí còn được coi là những hành vi tích cực, có ích cho xã hội. Hay nói cách khác, hành vi ấy thực tế gây thiệt hại cho Nhà nước, cho tổ chức hoặc cá nhân nào đó, nhưng nhìn từ góc độ lợi ích xã hội, công cộng và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm…thì thiệt hại đó là không đáng kể so với lợi ích mà các hành vi đó mang lại.

Đó là những trường hợp loại trừ TNHS. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, từ trước đến nay trên một số sách báo pháp lý, chuyên khảo luật hình sự, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý đã có những nghiên cứu về chế định loại trừ TNHS ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, bước đầu đã tập trung kiến giải làm rõ những đặc điểm của loại trừ TNHS. Tuy nhiên, trong các công trình khoa học này, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý nêu ra những thuật ngữ khác nhau đối với tên gọi, 11 cũng như tương ứng là các cách hiểu khác nhau về khái niệm, bản chất pháp lý và phạm vi những trường hợp loại TNHS, cụ thể: - Quan điểm thứ nhất, gọi tên các trường hợp này là “những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” như trong Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung) của GS.Lê Văn Cảm năm 2005; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.Võ Khánh Vinh năm 2014; Sách chuyên khảo Luật hình sự so sánh của PGS. Trong đó, nổi bật có quan điểm khoa học của GS.Lê Văn Cảm đã được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu, dẫn chiếu, so sánh trong các công trình khoa học của mình, và được đánh giá chứa đựng “nhiều nhân tố hợp lý và chứa đựng các yếu tố khoa học pháp lý” [34, tr.Lê Văn Cảm đã đưa ra những lập luận, phân tích có hệ thống và có căn cứ để khẳng định và lý giải “tính chất tội phạm của hành vi là phạm trù rộng hơn cả và bao trùm lên tất cả các tính chất khác – tính nguy hiểm cho xã hội, tính chất lỗi, và tính chất trái pháp luật hình sự” [4, tr.

Đồng thời, tác giả đưa ra khái niệm khoa học “trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là tình tiết được điều chỉnh trong pháp luật hình sự mà khi có căn cứ do luật định thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm và do vậy, người gây ra thiệt hại đó không phải chịu trách nhiệm hình sự” [4, tr. Quan điểm này cho rằng loại trừ TNHS bao gồm 10 trường hợp: Sự kiện bất ngờ; gây thiệt hại nhưng chưa đủ tuổi chịu TNHS; gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực TNHS; tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi; phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh; sự rủi ro (mạo hiểm) chấp nhận được (có căn cứ) về kinh tế hoặc nghề nghiệp; tình trạng bất khả kháng và sự bất đắc dĩ phải gây thiệt hại trong khi bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã [4, tr. 12 - Quan điểm thứ hai, cho rằng các trường hợp này là “những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi” như trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập I) của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Sách chuyên khảo Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của tác giả Phạm Văn Beo năm 2009. Sở dĩ tên gọi này được lựa chọn vì các tác giả cho rằng “hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội… Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [48, tr.

Do vậy, các tác giả cho rằng tính chất nguy hiểm cho xã hội đã bị loại trừ vì “xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội”. Từ đó, các tác giả đưa ra định nghĩa về những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là “những tình tiết làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quy định trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường là tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong những điều kiện kèm theo tình tiết đó” [48, tr. Với định nghĩa này, có thể thấy các tác giả dựa trên đặc điểm (dấu hiệu) về nội dung (vật chất) - là tính nguy hiểm cho xã hội - để đặt tên gọi riêng cho nhóm các trường hợp này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ