Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nhập siêu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chương 2: Cán cân thương mại, nguyên nhân nhập siêu và chính sách liên quan đến nhập siêu của Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp kiềm chế nhập siêu của Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHẬP SIÊU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Một số vấn đề lý luận chung của nhập siêu 1. Khái niệm nhập siêu Để hiểu về nhập siêu, trước hết chúng ta tìm hiểu các khái niệm liên quan đến nhập siêu đó là xuất khẩu và nhập khẩu. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật [17].
Để nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh với nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động xuất khẩu có những nhiệm vụ sau. Thứ nhất, xuất khẩu gia tăng thị phần hàng hóa của Việt Nam trên thị trường quốc tế để nước ta có thể tham gia tác động vào cung của thị trường, nhờ đó tác động vào giá cả theo hướng có lợi. Thứ hai, xuất khẩu tăng khả năng cạnh tranh để nâng cao vị thế của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, phát triển quan hệ đối ngoại với tất cả các nước, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước: “đa dạng hóa thị trường và đa phương hóa quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác khu vực”. Thứ ba, đẩy mạnh xuất khẩu để tham gia làm lành mạnh tình hình tài chính quốc gia: đảm bảo sự cân đối trong cán cân thanh toán và cán cân buôn bán, giảm tình trạng nhập siêu.
Thứ tư, xuất khẩu để đảm bảo kim ngạch xuất khẩu phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước và cuộc cách mạng kỹ thuật. Xuất khẩu có nhiệm vụ khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tương đối của đất nước, kích thích các ngành kinh tế phát triển, đồng thời góp phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền kinh tế. Thứ năm, xuất khẩu nhằm 5 đẩy mạnh tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước, đồng thời cải thiện từng bước đời sống của nhân dân thông qua tạo công ăn việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người lao động. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật [17].
Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam trên các mặt sau đây: Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vì qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60% - 100% nguyên nhiên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất. Trong điều kiện công nghiệp sản xuất nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu những nguyên liệu cao cấp như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho nông nghiệp, các linh kiện cho ngành lắp ráp xe máy, điện tử, xe hơi…hoạt động nhập khẩu đã và đang góp phần quan trọng trong thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng về xuất khẩu. Thứ hai, nhập khẩu tác động mạnh vào sự đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, nhờ đó trình độ sản xuất nâng cao, năng suất lao động tăng. Thứ ba, nhập khẩu có vai trò nhất định trong việc cải thiện và nâng cao mức sống của một bộ phận nhân dân bởi thông qua nhập khẩu, sản xuất mới có đủ nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc hoạt động, nên công nhân mới có công ăn việc làm, có thu nhập.
Mặt khác, nhập khẩu hàng tiêu dùng, nhập khẩu sách báo khoa học kỹ thuật và văn hóa phẩm đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí tăng. Nhập siêu là việc mua hàng hóa của nước ngoài vào nhiều hơn là xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Hay nói cách khác nhập siêu là tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu cao hơn so với xuất khẩu của một quốc gia. 6 Thực tiễn của hơn hai mươi năm đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam và kinh nghiệm một số nước, có thể nói nhập siêu không phải lúc nào cũng bất lợi.
Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự tăng trưởng của sản xuất, đầu tư nước ngoài tăng mạnh dẫn tới nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu tăng theo. Nếu nền kinh tế có tiềm năng tăng trưởng tốt, với nhiều cơ hội đầu tư, nhu cầu đầu tư cao hơn khả năng tiết kiệm thì nhập siêu không là vấn đề nghiêm trọng bởi đó là cơ sở cho phát triển sản xuất và xuất khẩu. Ở giai đoạn đầu của sự phát triển, nhập siêu gần như là không thể tránh khỏi, vấn đề là làm sao giữ cho nhập siêu ở một mức và với một cơ cấu hợp lý. Quá trình thực hiện các giải pháp kiềm chế nhập siêu ở Việt Nam cần thực hiện hài hòa, thống nhất với các công cụ bảo hộ.
Bảo hộ sản xuất trong nước luôn là ý nghĩ thường trực và tự nhiên của bất kỳ quốc gia nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế toàn cầu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm trong nước còn chưa đủ mạnh. Bảo hộ nhằm tạo bà đỡ cho các doanh nghiệp và ngành kinh doanh mới còn nhiều non trẻ trong nước, tạo công ăn việc làm, duy trì động lực phát triển và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tạo thêm giá trị gia tăng và bền vững, cải thiện cơ cấu thương mại và tăng thu ngân sách nhà nước, cũng như để tìm kiếm chỗ đứng và vị thế cao hơn của nền kinh tế và doanh nghiệp đất nước trong tổng sắp chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài việc bảo hộ bằng các công cụ thuế, thủ tục hải quan, còn có thể và ngày càng cần tăng cường các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn địa phương khác phù hợp với quyền tự vệ, thông lệ và cam kết hội nhập quốc tế. Ở Việt Nam, một số ngành hàng (như dệt may, da giày, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ôtô, cơ khí chế tạo, và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ 7 cho công nghiệp công nghệ cao) được Nhà nước tạo điều kiện, khuyến khích phát triển thị trường, hạ tầng cơ sở, hỗ trợ khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ tài chính… cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư.
Bảo hộ sẽ không có ý nghĩa kinh tế- xã hội nếu không thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, chuyển giao công nghệ và giảm giá thành vì quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của đất nước. Bảo hộ sai sẽ khiến tạo ra những méo mó giá cả và thị trường, làm chậm quá trình tái cấu trúc kinh tế, giảm hiệu quả đầu tư xã hội, doanh nghiệp. Thậm chí, bảo hộ bằng mọi giá sẽ có thể gây những đổ vỡ cân đối vĩ mô và nhiều quy hoạch ngành khác nhau. Sức ép cạnh tranh thị trường đầy đủ và lành mạnh sẽ tạo ra giá cả hàng hóa rẻ hơn, hàng hóa phong phú và chất lượng hơn.
Vì vậy, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, chủ đầu tư và người dân, phù hợp với các nguyên tắc kinh tế thị trường có quản lý và định hướng của Nhà nước, phù hợp các cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế là nguyên tắc quan trọng nhất trong lựa chọn bảo hộ hay không bảo hộ và bảo hộ bằng công cụ nào, bao lâu và như thế nào. Việc giảm thuế quan theo các cam kết đa phương, khu vực và song phương có mặt tích cực như giảm chi phí đầu vào cho nhiều sản phẩm trong nước, tạo sức thúc ép các doanh nghiệp phải đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh để giữ vững thị trường và hơn thế còn khai thác thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu (do cũng được các thành viên WTO giảm thuế và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan đối với hàng hoá Việt Nam). Bởi vậy, giải pháp hàng đầu là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở sản xuất, kinh doanh, quy mô thương mại trong nước và xuất khẩu đều phát triển mạnh thì mới có thể kiềm chế nhập siêu.
8 Những năm tới, tình trạng nhập siêu còn trầm trọng hơn do hậu quả của chính sách bảo hộ thời kỳ tiền gia nhập WTO. Trong điều kiện thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là chức năng bảo hộ của thuế nhập khẩu cần được điều chỉnh lại cho phù hợp. Trước mắt cần xây dựng Biểu thuế nhập khẩu cho phù hợp với định hướng bảo vệ có chọn lọc đối với ngành hàng kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các dòng thuế nhập khẩu cần điều chỉnh theo hướng bảo vệ, hỗ trợ những ngành sản xuất có khả năng cạnh tranh trong một điều kiện với một thời hạn và xuất khẩu trên thị trường khu vực và thế giới, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, định hướng phát triển các ngành kinh tế phù hợp với mục tiêu đặt ra.
Bảo hộ cũng cần có lộ trình giảm dần, có như vậy chính sách bảo hộ mới có tác dụng nâng cao sức cạnh tranh mà vẫn không phải triệt tiêu sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Về lâu dài, việc điều hành chính sách thuế nhập khẩu nên dựa trên quan điểm coi đó là một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước chứ không phải là một nguồn thu quan trọng. Có như vậy, thuế suất thuế nhập khẩu mới đáp ứng được là một hàng rào hữu hiệu để hạn chế nhập siêu và bảo hộ sản xuất trong nước.