Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1997 - 2011, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận sự bứt phá kinh tế vượt bậc với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 15,1%/năm, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng ấn tượng 18,3%/năm và chiếm tỷ trọng 64,8% trong cơ cấu kinh tế vào năm 2010. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đạt trên 64.000 tỷ đồng, đưa Bắc Ninh vươn lên vị trí thứ 9 toàn quốc về giá trị sản xuất công nghiệp và thứ 7 cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, tốc độ công nghiệp hóa thần tốc đang tạo ra áp lực nặng nề lên thị trường lao động địa phương. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự lệch pha giữa nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao của các dự án FDI hiện đại và chất lượng nguồn lao động tại chỗ còn nhiều hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích toàn diện thực trạng cung - cầu, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 1997 - 2011, từ đó xác định các điểm nghẽn then chốt và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển nguồn nhân lực đồng bộ nhằm đáp ứng mục tiêu đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lực lượng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp, các khu công nghiệp (KCN) tập trung và cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật, tối ưu hóa năng suất lao động và tạo đòn bẩy vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin về vai trò của con người trong lực lượng sản xuất và lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) hiện đại. Theo quan điểm kinh tế chính trị, con người là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội; sự phát triển của công cụ lao động và công nghệ xét đến cùng là sự vật hóa năng lực trí tuệ của con người. Bên cạnh đó, tiếp cận theo lý thuyết vốn con người của Ngân hàng Thế giới và Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực được xem là tổng thể vốn thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, đóng vai trò là yếu tố nội sinh quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các khái niệm cốt lõi được vận dụng trong nghiên cứu bao gồm: nguồn nhân lực công nghiệp (tổng thể năng lực thể lực và trí lực được huy động vào sản xuất công nghiệp), chất lượng nguồn nhân lực (đo lường qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, thể lực và tác phong công nghiệp), và chuyển dịch cơ cấu lao động (quá trình tái phân bổ lao động từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao). Luận văn cũng tổng kết bài học thực tiễn từ các nước công nghiệp mới (NICs) như Singapore, Hàn Quốc và kinh nghiệm phát triển nhân lực công nghiệp tại các địa phương dẫn đầu như Bình Dương, Đồng Nai và Vĩnh Phúc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh trong chuỗi thời gian từ năm 1997 đến năm 2011. Dữ liệu bao quát toàn bộ 603.806 lao động đang làm việc trong nền kinh tế, hệ thống 15 KCN tập trung, 23 cụm công nghiệp làng nghề cùng 838 doanh nghiệp công nghiệp và hơn 30.478 hộ sản xuất cá thể trên toàn tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi thời gian (time-series) và phân tích cơ cấu ngành kinh tế. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ bản chất của chuyên ngành Kinh tế chính trị, cho phép tác giả bóc tách mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tích lũy tư bản, chuyển dịch cơ cấu kinh tế với sự biến đổi về chất lượng và cơ cấu của lực lượng lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực công nghiệp gia tăng nhanh chóng cùng tiến trình đô thị hóa nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương xứng với tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP. Năm 2010, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm tới 64,8% GDP của tỉnh, nhưng đến năm 2011, tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực này mới chỉ đạt 34,88% (tương đương 210.607 lao động). Ngược lại, khu vực nông - lâm - thủy sản chỉ đóng góp 11% GDP nhưng vẫn chiếm giữ tới 44,15% tổng số lao động (266.580 người).

Thứ hai, tốc độ đô thị hóa nhanh tạo áp lực lớn lên hạ tầng an sinh và đào tạo nghề. Dân số đô thị tăng vọt từ 133,6 nghìn người (chiếm 13,5% năm 2005) lên 268,5 nghìn người (chiếm 26% năm 2010), đạt tốc độ tăng trưởng đô thị hóa bình quân 15%/năm. Sự dịch chuyển dân số cơ học từ các tỉnh lân cận về các KCN tập trung đã bổ sung nguồn cung lao động dồi dào nhưng phần lớn là lao động phổ thông, thiếu kỹ năng chuyên sâu.

Thứ ba, công tác giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả tích cực song tỷ lệ lãng phí thời gian lao động nông thôn còn cao. Số việc làm mới được tạo ra tăng từ 20.568 việc làm (năm 2007) lên 26.120 việc làm (năm 2011), góp phần hạ tỷ lệ thất nghiệp thành thị từ 3,83% xuống 2,66%. Tuy nhiên, mức độ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn năm 2011 chỉ đạt 83,5%, đồng nghĩa với việc gần 16,5% quỹ thời gian của lao động nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp về thể lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tác phong kỷ luật còn khoảng cách đáng kể so với yêu cầu của các doanh nghiệp FDI công nghệ cao. Cơ cấu đào tạo kỹ thuật còn bất cập, thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ kỹ sư thực hành, kỹ thuật viên lành nghề và chuyên gia quản trị điều hành sản xuất.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu giữa biểu đồ tăng trưởng GDP (đạt đỉnh 4.895,2 tỷ đồng theo giá so sánh 1994 vào năm 2005) và bảng cơ cấu lao động 3 khu vực kinh tế năm 2011, có thể thấy rõ độ trễ lớn giữa chuyển dịch cơ cấu sản lượng và chuyển dịch cơ cấu việc làm. Nguyên nhân chính là do sự phát triển nhanh của các ngành công nghiệp hiện đại sử dụng nhiều vốn và công nghệ cao, đòi hỏi trình độ tay nghề khắt khe mà lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư sau thu hồi đất chưa thể đáp ứng ngay.

So sánh với các trung tâm công nghiệp phía Nam như Bình Dương (28 KCN) hay Đồng Nai (30 KCN với hơn 300.000 lao động), Bắc Ninh có lợi thế vượt trội về vị trí cửa ngõ Thủ đô và truyền thống văn hóa khéo léo của người dân Kinh Bắc. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế liên kết đào tạo đột phá giữa "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp", Bắc Ninh sẽ khó duy trì được chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI đang đứng thứ 10 toàn quốc) và gặp rủi ro rơi vào bẫy giá trị gia tăng thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản chương trình giáo dục nghề nghiệp gắn liền với nhu cầu thực tế của các KCN. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần chỉ đạo các trường Cao đẳng, Trung cấp nghề chuyển sang mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp; nâng tỷ lệ lao động công nghiệp qua đào tạo có chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật lên mức 55% vào năm 2015 và đạt trên 65% vào năm 2020.

Thứ hai, ban hành chính sách ưu đãi đặc thù nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao. Sở Nội vụ phối hợp với Ban Quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh xây dựng đề án hỗ trợ nhà ở xã hội, phúc lợi y tế và miễn giảm thuế thu nhập cho chuyên gia, kỹ sư kỹ thuật cao; đặt mục tiêu thu hút ít nhất 3.000 đến 5.000 kỹ sư công nghệ và cử nhân kỹ thuật chất lượng cao về làm việc tại địa phương mỗi năm trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ ba, triển khai chương trình nâng cao thể lực và tác phong công nghiệp cho người lao động. Liên đoàn Lao động tỉnh phối hợp với Sở Y tế và các chủ doanh nghiệp thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho 100% người lao động tại các cơ sở sản xuất công nghiệp; đồng thời phổ biến quy chuẩn vệ sinh, an toàn lao động và đào tạo kỹ năng mềm, kỷ luật lao động công nghiệp nhằm cải thiện năng suất lao động tối thiểu 8%/năm.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển dịch lao động nông nghiệp dôi dư sang khu vực công nghiệp và dịch vụ công nghiệp. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với Sở Công Thương tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, chuyển đổi nghề nghiệp linh hoạt tại chỗ; phấn đấu nâng mức sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn từ 83,5% lên trên 90% đến năm 2015 và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 35% tổng số lao động toàn tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Bắc Ninh cùng các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nhân lực, chính sách phân bổ dân cư và chiến lược thu hút đầu tư có chọn lọc.

Thứ hai, Ban Quản lý các KCN, hiệp hội doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước. Tài liệu giúp các nhà quản trị nắm bắt bức tranh toàn cảnh về cung - cầu lao động địa phương, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo nội bộ và định mức chi phí nhân sự hợp lý.

Thứ ba, các trường đại học, cao đẳng nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên. Các cơ sở đào tạo có thể sử dụng số liệu phân tích của luận văn để điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, đổi mới giáo trình giảng dạy phù hợp với tiêu chuẩn công nghệ của các tập đoàn sản xuất lớn.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực, Kinh tế phát triển. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa kinh tế học Mác - Lênin và phân tích định lượng dữ liệu kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng mâu thuẫn lớn nhất về nguồn nhân lực công nghiệp tại Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2011 là gì? Mâu thuẫn lớn nhất là tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động chậm hơn rất nhiều so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dù công nghiệp chiếm 64,8% GDP năm 2010, lao động công nghiệp năm 2011 chỉ chiếm 34,88% trong khi lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 44,15%.

Tại sao luận văn đặc biệt nhấn mạnh yếu tố thể lực và tác phong lao động bên cạnh trình độ tay nghề? Do yêu cầu của dây chuyền sản xuất tự động hóa hiện đại trong 15 KCN tập trung đòi hỏi sự bền bỉ, cường độ làm việc cao và tính kỷ luật tuyệt đối. Thể lực và tác phong công nghiệp là nền tảng giúp giảm thiểu tai nạn lao động và tối ưu hóa năng suất.

Nguồn cung nhân lực bổ sung cho các KCN Bắc Ninh chủ yếu đến từ những nguồn nào? Nguồn cung đến từ hai nguồn chính: tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học từ các tỉnh lân cận, kết hợp với dòng chuyển dịch lao động nông thôn vào đô thị nhờ tốc độ đô thị hóa nhanh đạt 15%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010.

Bài học kinh nghiệm nào từ các nước NICs có thể áp dụng hiệu quả nhất cho Bắc Ninh? Đó là mô hình đào tạo nghề trực tiếp tại nơi làm việc của Hàn Quốc và chiến lược đầu tư liên kết đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp của Singapore nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn sản xuất công nghiệp.

Mức độ sử dụng thời gian lao động nông thôn tại Bắc Ninh phản ánh điều gì đối với chiến lược phát triển nhân lực? Mức sử dụng chỉ đạt 83,5% năm 2011 phản ánh tình trạng lãng phí gần 1/5 quỹ thời gian của lao động nông thôn, đòi hỏi tỉnh phải có giải pháp cấp bách đào tạo nghề để đưa lực lượng này vào chuỗi sản xuất công nghiệp và dịch vụ phụ trợ.

Kết luận

  • Nguồn nhân lực là nhân tố nội sinh then chốt quyết định sự thành công của tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại tỉnh Bắc Ninh.
  • Giai đoạn 1997 - 2011 ghi nhận bước tiến nhảy vọt của kinh tế Bắc Ninh với tốc độ tăng trưởng GDP 15,1%/năm, nhưng cơ cấu lao động vẫn còn mất cân đối khi lao động nông nghiệp chiếm tới 44,15%.
  • Tỉnh đối mặt với sự thiếu hụt nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, hạn chế về thể lực và tác phong lao động công nghiệp trong bối cảnh các KCN FDI mở rộng nhanh.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện bao gồm: đổi mới giáo dục nghề nghiệp, thu hút nhân tài, nâng cao thể lực và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông thôn.
  • Các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ chiến lược phát triển nguồn nhân lực để tạo nền tảng vững chắc đưa Bắc Ninh sớm trở thành thành phố công nghiệp kiểu mẫu.