Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam sau gần 12 năm hình thành và phát triển tính đến cuối năm 2011 đã thu hút 692 công ty niêm yết với tổng vốn hóa thị trường đạt hơn 25 tỷ USD, hơn 100 công ty chứng khoán hoạt động và hơn 1.000.000 tài khoản giao dịch. Tuy nhiên, thị trường non trẻ này liên tục trải qua những biến động bất thường mang tính chu kỳ sâu sắc. Giai đoạn 2006-2007 chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ khi chỉ số VN-Index tăng trưởng 145% trong năm 2006 và xác lập đỉnh lịch sử 1.170,67 điểm vào ngày 12/03/2007, đẩy hệ số P/E toàn thị trường lên mức 38-40 lần và giá trị vốn hóa chiếm trên 43% GDP. Ngay sau giai đoạn bong bóng đầu cơ, thị trường rơi vào khủng hoảng trầm trọng khi VN-Index đóng cửa năm 2008 ở mức 315,62 điểm, sụt giảm 73,04% so với đỉnh và mất 69% tính theo đồng USD, trở thành một trong những thị trường có hiệu suất giảm mạnh nhất khu vực châu Á.

Vấn đề cốt lõi dẫn đến các hiện tượng định giá sai lệch nghiêm trọng bắt nguồn từ tình trạng bất cân xứng thông tin, quy mô thị trường còn nhỏ và trình độ của đa số nhà đầu tư cá nhân còn hạn chế, tạo mảnh đất màu mỡ cho tâm lý đám đông phát triển. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích, kiểm định định lượng sự tồn tại của hành vi bầy đàn (herding behavior) trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời làm rõ tính bất cân xứng của hành vi này giữa các trạng thái thị trường tăng hay giảm điểm và tác động lan truyền thông tin giao dịch chéo giữa hai sàn. Phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu giao dịch hàng ngày trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 5 năm từ ngày 01/06/2007 đến ngày 01/06/2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tài chính hành vi, hỗ trợ cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế thị trường và giúp hơn 1 triệu nhà đầu tư nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro danh mục.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng của Lý thuyết Tài chính hành vi (Behavioral Finance), trường phái học thuật xuất hiện nhằm phản biện Lý thuyết Thị trường hiệu quả (EMH) vốn dựa trên giả định nhà đầu tư duy lý và cơ chế kinh doanh chênh lệch giá hoàn hảo. Nền tảng này tích hợp Lý thuyết Triển vọng (Prospect Theory) của Daniel Kahneman và Amos Tversky cùng các nghiên cứu thực nghiệm của Richard Thaler và Robert Shiller về sự hưng phấn phi lý trí. Lý thuyết khẳng định quá trình ra quyết định của con người chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố tâm lý xã hội và giới hạn duy lý (Bounded Rationality) của Herbert Simon.

Khung mô hình lý thuyết về hành vi bầy đàn kế thừa các nghiên cứu kinh điển của Sushil Bikhchandani, David Hirshleifer, Ivo Welch (1992) và David Scharfstein, Jeremy Stein (1990). Nghiên cứu phân định 3 dạng thức bầy đàn chủ yếu: bầy đàn theo thông tin (information-based), bầy đàn theo danh tiếng (reputation-based) và bầy đàn theo thù lao (compensation-based). Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm then chốt như hành vi bầy đàn có chủ ý (intentional herding), bất cân xứng thông tin (information asymmetry), độ phân tán lợi nhuận (Cross-Sectional Absolute Deviation - CSAD) và các sai lệch nhận thức phổ biến gồm: tự tin thái quá (overconfidence), phụ thuộc thuật toán kinh nghiệm (heuristics 1/N), tâm lý hối tiếc (regret theory), tính toán bất hợp lý (mental accounting) và lệch lạc do tình huống điển hình (representativeness) dựa trên quy luật số quan sát nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi giá đóng cửa hàng ngày của tất cả các cổ phiếu niêm yết trên hai sàn HoSE và HNX trong suốt thời gian 5 năm (từ 01/06/2007 đến 01/06/2012), tương ứng hơn 1.250 phiên giao dịch liên tục. Toàn bộ mẫu nghiên cứu bao quát 100% số lượng công ty niêm yết đủ điều kiện giao dịch trên cả hai sàn, đại diện trọn vẹn cho quy mô vốn hóa hơn 25 tỷ USD của thị trường Việt Nam giai đoạn này.

Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn mô hình hồi quy phi tuyến tính của Chang, Cheng và Khorana (CCK, 2000) kết hợp với mở rộng của Tan và cộng sự (2008) để đo lường mức độ phân tán lợi nhuận thị trường CSAD thay cho phương pháp của Christie và Huang (CH, 1995). Lý do lựa chọn mô hình CCK là vì phương pháp này khảo sát toàn bộ phân phối lợi nhuận thị trường thay vì chỉ dựa vào các điểm cắt 1% hoặc 5% mang tính chủ quan của CH, đồng thời không đòi hỏi phải ước lượng hệ số Beta từ mô hình CAPM - vốn tồn tại nhiều tranh cãi và không ổn định trong điều kiện thị trường mới nổi.

Mô hình định lượng được thiết lập dưới dạng hàm bậc hai: CSAD theo thời gian phụ thuộc vào trị tuyệt đối của lợi nhuận thị trường và bình phương lợi nhuận thị trường. Để kiểm tra tính bất cân xứng, dữ liệu được chia tách thành hai tập con tương ứng với thị trường tăng điểm (lợi nhuận thị trường dương) và thị trường giảm điểm (lợi nhuận thị trường âm). Đồng thời, biến bình phương lợi nhuận chéo giữa hai sàn được đưa vào phương trình nhằm đo lường hiệu ứng lan truyền thông tin. Các kiểm định thống kê phần dư chặt chẽ được thực hiện gồm: kiểm định Jarque-Bera cho phân phối chuẩn, Durbin-Watson cho tự tương quan, kiểm định White cho phương sai thay đổi và kiểm định ARCH cho hiện tượng tự hồi quy phương sai có điều kiện, kết hợp phương pháp hiệu chỉnh sai số chuẩn Newey-West và mô hình GARCH để đảm bảo tính vững của các ước lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả hồi quy mô hình CCK xác nhận sự tồn tại rõ ràng của tâm lý bầy đàn trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2007-2012. Hệ số phi tuyến tính của biến bình phương lợi nhuận thị trường mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trên cả HoSE và HNX. Điều này chứng minh rằng khi thị trường biến động mạnh, độ phân tán lợi nhuận CSAD có xu hướng giảm thay vì tăng tuyến tính theo lý thuyết định giá tài sản tiêu chuẩn, phản ánh việc các nhà đầu tư từ bỏ nhận định cá nhân để hành động theo đám đông.

Thứ hai, nghiên cứu phát hiện tính bất cân xứng sâu sắc của hành vi bầy đàn theo chiều hướng biến động của thị trường. Hệ số bầy đàn trong điều kiện thị trường giảm điểm có giá trị âm lớn hơn và mức ý nghĩa thống kê vượt trội so với thị trường tăng điểm. Cụ thể, mức độ hội tụ hành vi khi thị trường đi xuống cao hơn khoảng 35% đến 50% so với khi thị trường đi lên, cho thấy tâm lý hoảng loạn và sợ hãi thua lỗ thúc đẩy làn sóng bán tháo diễn ra đồng loạt và gay gắt hơn rất nhiều so với lòng tham trong các đợt tăng giá.

Thứ ba, kiểm định giao dịch chéo chứng minh sự phụ thuộc thông tin một chiều giữa hai sàn niêm yết. Hệ số của biến bình phương lợi nhuận sàn HoSE trong mô hình giải thích CSAD của sàn HNX mang dấu âm và đạt mức ý nghĩa 1%, trong khi chiều ngược lại từ HNX sang HoSE không có ý nghĩa thống kê rõ rệt. Kết quả này khẳng định nhà đầu tư tại sàn HNX chịu sự chi phối tâm lý rất lớn từ diễn biến giao dịch tại sàn HoSE.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra đặc điểm quy mô vốn hóa nhỏ là yếu tố khuếch đại tâm lý bầy đàn. Thống kê cho thấy hơn 43% doanh nghiệp tại HoSE có vốn hóa dưới 500 tỷ đồng và 40% doanh nghiệp tại HNX có vốn hóa dưới 100 tỷ đồng; đồng thời 39% cổ phiếu HNX có khối lượng giao dịch bình quân dưới 50.000 cổ phiếu/ngày. Quy mô thanh khoản nhỏ khiến các cổ phiếu này dễ bị thao túng giá, làm lan truyền tâm lý bắt chước trong cộng đồng nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên các kết quả trên bắt nguồn từ môi trường pháp lý chưa đồng bộ và tính minh bạch thông tin rất thấp trong giai đoạn 2007-2012. Bằng chứng thực tế cho thấy trong năm 2007 có 26/250 công ty nộp chậm báo cáo tài chính, con số này tăng vọt lên 103 công ty trong năm 2008 và đạt 203 công ty vào năm 2009. Riêng 6 tháng đầu năm 2012, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã phải xử phạt 34 doanh nghiệp và 6 cá nhân với tổng số tiền 2,482 tỷ đồng chủ yếu do vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin và giao dịch nội gián. Khi chất lượng thông tin công bố mập mờ và độ tin cậy thấp, nhà đầu tư buộc phải dựa vào việc quan sát hành động của người khác để ra quyết định, biến thị trường thành chuỗi các phản ứng bắt chước dây chuyền.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế, kết quả này hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của Tan và cộng sự (2008) tại thị trường Trung Quốc hay Kallinterakis (2009) tại Việt Nam, nơi các thị trường mới nổi luôn có mức độ bầy đàn cao hơn các thị trường phát triển như Mỹ hay Nhật Bản. Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ phân tán giữa CSAD và lợi nhuận thị trường, đồ thị thể hiện rõ một đường cong parabol hướng xuống tại hai vùng đuôi lợi nhuận cực trị thay vì một đường thẳng dốc lên. Bảng tổng hợp hồi quy phân định rõ nét sự chênh lệch độ dốc giữa hai trạng thái tăng và giảm điểm, phản ánh chân thực bức tranh tâm lý nhà đầu tư Việt Nam luôn bị chi phối bởi quán tính đám đông và rào cản từ quy định biên độ giá cùng chính sách cấm bán khống.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực chế tài xử phạt vi phạm công bố thông tin. Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần tăng mức phạt vi phạm hành chính lên gấp 3 đến 5 lần so với khung xử phạt cũ (mức tối đa 290 triệu đồng năm 2012 là quá thấp so với lợi ích thu được từ việc làm giá), đồng thời quy định lộ trình bắt buộc 100% doanh nghiệp niêm yết áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS trong giai đoạn 2013-2016, kéo giảm tỷ lệ nộp chậm báo cáo tài chính từ mức trên 50% xuống dưới 5%.

Thứ hai, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính và từng bước nới lỏng cơ chế giao dịch. Sở Giao dịch Chứng khoán và cơ quan quản lý cần xây dựng đề án triển khai các nghiệp vụ giao dịch trong ngày (T+0), bán khống có bảo chứng và các sản phẩm phái sinh chỉ số trong giai đoạn 2014-2017. Việc bổ sung các công cụ phòng vệ rủi ro sẽ giúp giá chứng khoán điều chỉnh liên tục về giá trị hợp lý, triệt tiêu các chuỗi tăng kịch trần hoặc giảm kịch sàn kéo dài vốn là nguồn cơn kích hoạt tâm lý bầy đàn.

Thứ ba, tái cấu trúc và chuẩn hóa chất lượng tư vấn của hơn 100 công ty chứng khoán. Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASB) phải ban hành bộ quy tắc đạo đức hành nghề chuẩn mực, bắt buộc 100% chuyên viên môi giới hoàn thành chứng chỉ tài chính hành vi và phân tích kỹ thuật trước quý 4/2014, loại bỏ triệt để các hành vi liên kết tạo lập thị trường, tung tin đồn thất thiệt để làm giá cổ phiếu nhỏ nhằm trục lợi từ khách hàng.

Thứ tư, đẩy mạnh các chương trình đào tạo và phổ biến kiến thức cho hơn 1.000.000 nhà đầu tư cá nhân. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần phối hợp với các trường đại học khối kinh tế tổ chức các khóa học định kỳ hàng quý về quản trị tâm lý đầu tư, nhận diện các bẫy thiên lệch nhận thức và phương pháp phân bổ danh mục khoa học, hướng tới mục tiêu 70% nhà đầu tư mới tham gia thị trường có kiến thức phân tích báo cáo tài chính căn bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, hơn 1.000.000 nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán: Luận văn cung cấp góc nhìn khoa học giúp nhà đầu tư nhận diện các bẫy tâm lý phổ biến như sự tự tin thái quá và nỗi sợ hối tiếc, từ đó thiết lập kỷ luật đầu tư độc lập, tránh bị lôi kéo bởi các cơn sóng đầu cơ và tin đồn vô căn cứ trong các giai đoạn thị trường điều chỉnh trên 20%.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước gồm Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm chính xác về tác động của các chính sách vĩ mô (như điều chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc) và quy định kỹ thuật (biên độ dao động giá) đến hành vi thị trường, hỗ trợ việc thiết kế chính sách điều hành ổn định, giảm thiểu các cú sốc thanh khoản.

Thứ ba, ban điều hành của hơn 100 công ty chứng khoán và các nhà quản lý quỹ đầu tư: Tài liệu là cơ sở quan trọng để xây dựng các mô hình quản trị rủi ro định lượng, hoàn thiện bộ phận tư vấn đầu tư theo hướng tiếp cận tài chính hành vi và thiết kế các sản phẩm ủy thác danh mục chuyên nghiệp cho khách hàng.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về quy trình ứng dụng mô hình kinh tế lượng phi tuyến CCK (2000), Tan và cộng sự (2008) kết hợp kiểm định chuỗi thời gian GARCH để khai thác các chủ đề nghiên cứu bất thường thị trường tại các nền kinh tế mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

Tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam biểu hiện rõ nét nhất trong giai đoạn nào? Nghiên cứu chứng minh hành vi bầy đàn xuất hiện mạnh mẽ nhất trong các giai đoạn thị trường giảm điểm sâu. Minh chứng điển hình là năm 2008 khi VN-Index lao dốc 73,04% từ đỉnh 1.170,67 điểm xuống 315,62 điểm, tâm lý sợ hãi thua lỗ đã khiến các nhà đầu tư đồng loạt tháo chạy khỏi thị trường, khiến độ phân tán lợi nhuận co cụm bất thường.

Tại sao mô hình CCK (2000) được đánh giá tối ưu hơn mô hình CH (1995) trong đề tài này? Mô hình CCK khảo sát toàn bộ phân phối lợi nhuận hàng ngày thay vì chỉ cắt lấy 1% hoặc 5% giá trị cực trị như CH, giúp tránh bỏ sót dữ liệu. Ngoài ra, CCK không phụ thuộc vào hệ số Beta của mô hình CAPM, vốn biến động rất thất thường tại thị trường Việt Nam với hơn 692 mã cổ phiếu niêm yết.

Tình trạng bất cân xứng thông tin thúc đẩy hành vi bầy đàn tại Việt Nam như thế nào? Sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin, thể hiện qua việc 203 công ty nộp chậm báo cáo tài chính năm 2009 và 34 doanh nghiệp bị xử phạt 2,482 tỷ đồng năm 2012, khiến nhà đầu tư mất phương hướng. Thiếu dữ liệu tin cậy, nhà đầu tư cá nhân có xu hướng sao chép lệnh mua bán của các tổ chức lớn, tạo nên làn sóng bầy đàn.

Mối quan hệ lan truyền tâm lý giao dịch giữa sàn HoSE và sàn HNX diễn ra ra sao? Kết quả kiểm định hồi quy tương tác chéo cho thấy HoSE đóng vai trò dẫn dắt tuyệt đối đối với HNX. Do HoSE sở hữu mức vốn hóa trung bình 2.484 tỷ đồng/công ty (cao gấp gần 5 lần so với 527 tỷ đồng/công ty tại HNX), mọi biến động lợi nhuận mạnh trên HoSE đều trực tiếp chi phối và khuếch đại hành vi bầy đàn của nhà đầu tư sàn Hà Nội.

Nhà đầu tư cá nhân cần áp dụng chiến lược gì để không bị cuốn vào hiệu ứng đám đông? Nhà đầu tư cần tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp phân tích cơ bản, định giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và thiết lập mức cắt lỗ tự động từ 7% đến 10%. Việc kiên định với chiến lược phân bổ tài sản khoa học giúp loại bỏ cảm xúc lo âu, tránh rơi vào các bẫy giao dịch mua đỉnh bán đáy khi thị trường dao động mạnh.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm định thực nghiệm thành công và khẳng định sự tồn tại vững chắc của hành vi bầy đàn trên cả hai sàn chứng khoán HoSE và HNX trong suốt giai đoạn 2007-2012 với hơn 1.250 phiên giao dịch.
  • Chứng minh bản chất bất cân xứng rõ rệt của tâm lý bầy đàn: mức độ bắt chước hành vi khi thị trường giảm điểm cao hơn từ 35% đến 50% so với khi thị trường tăng điểm do áp lực sợ hãi thua lỗ lấn át lòng tham.
  • Xác thực mối quan hệ lan truyền thông tin một chiều từ sàn HoSE sang sàn HNX, khẳng định vai trò chi phối tâm lý thị trường của các cổ phiếu vốn hóa lớn tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện từ nâng cao chế tài xử phạt minh bạch thông tin, mở rộng sản phẩm phái sinh đến nâng chuẩn hành nghề môi giới cho hơn 100 công ty chứng khoán và đào tạo hơn 1 triệu nhà đầu tư.
  • Đề xuất lộ trình nghiên cứu tiếp theo giai đoạn 2013-2020 nhằm mở rộng mô hình sang các nhóm ngành đặc thù, phân tích hành vi khối ngoại sở hữu 25-30% vốn hóa và kiểm tra tác động của thị trường phái sinh tương lai.

Hãy khai thác và vận dụng ngay các kết quả nghiên cứu định lượng từ luận văn để hoàn thiện chiến lược đầu tư và nâng cao năng lực quản trị rủi ro danh mục chứng khoán của bạn một cách bền vững.