Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận và thực tiễn về năng lực quản lí cán bộ cấp xã. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng về năng lực quản lí cán bộ cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực quản lí cán bộ cấp xã tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÍ CÁN BỘ CẤP XÃ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến năng lực cán bộ cấp xã nói chung và năng lực quản lí của cán bộ cấp xã nói riêng: Nguyễn Trọng Điều (1992): “Hoàn thiện yêu cầu về tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí nhà nƣớc trong sự nghiệp đổi mới” đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí nhà nƣớc thông qua lí luận và thực trạng cán bộ lãnh đạo và quản lí nhà nƣớc. Tác giả cũng đề xuất giải pháp hoàn thiện tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo quản lí. Tuy nhiên, năng lực quản lí mới đƣợc tiếp cận một cách nói chung, chƣa bàn sâu về năng lực quản lí của cán bộ cấp xã.
Hồ Bá Thâm (1994): “Nâng cao năng lực tổ chức tƣ duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay – qua thực tế ở tỉnh Kiên Giang” đã đƣa ra khái niệm về năng lực là những phẩm chất tâm sinh lí làm nền tảng để hoàn thành công việc ở mức độ cao. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung ở năng lực tổ chức tƣ duy là chủ đạo, chƣa đánh giá đƣợc các năng lực cần thiết khác nhƣ năng lực quản lí của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã. Hoàng Gia Trang (2001): “Phẩm chất và năng lực của chủ tịch UBND xã – qua nghiên cứu một số xã ở các huyện ngoại thành Hà Nội” đã khái quát thực trạng cũng nhƣ một vài phẩm chất và năng lực của Chủ tịch UBND xã trong thời kì mới. Song, nghiên cứu chỉ đi sâu thảo luận phẩm chất và năng lực của cán bộ xã giữ chức danh Chủ tịch UBND, chƣa nghiên cứu và đánh giá đƣợc phẩm chất và năng lực của cán bộ ở các chức danh khác nhƣ Bí thƣ, Chủ tịch HĐND.
Phạm Thị Thu Vinh (2003): “Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” đã đƣa những đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở tại Phú Thọ. Tuy nhiên vấn đề năng lực chƣa đƣợc phân tích sâu dựa trên các nhóm tiêu chí cụ thể, chƣa đánh giá đƣợc chính xác mức 10 độ năng lực thực tế của cán bộ cơ sở tại Phú Thọ. Vì thế một số giải pháp đƣa ra còn chung chung, chƣa bám sát với mục đích nâng cao năng lực cán bộ. Hoàng Hải Bằng, Nguyễn Ngọc Long (2006): “Bản lĩnh chính trị với năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lí trong hệ thống chính trị ở nƣớc ta hiện nay” đã chỉ ra cấu trúc và biểu hiện các loại năng lực của ngƣời cán bộ lãnh đạo quản lí.
Tuy nhiên các tác giả chƣa bàn đến năng lực thực tiễn của ngƣời cán bộ lãnh đạo, quản lí trong hệ thống chính trị ở nƣớc ta. Lại Đức Vƣợng (2014): “Năng lực của đội ngũ cán bộ công chức – cơ sở cho việc phân cấp quản lý” chủ yếu đƣa ra khái niệm về phân cấp quản lí và thảo luận vấn đề quản lí quá trình phân cấp. Tác giả có đề cập đến 3 nhóm năng lực của đội ngũ cán bộ công chức là: năng lực lãnh đạo và quản lí, năng lực thực thi công vụ và năng lực nhóm, song chƣa bàn đến năng lực lãnh đạo và quản lí của cán bộ công chức cấp xã. Trần Ánh Dƣơng (2007): “Nâng cao năng lực quản lí nhà nƣớc của cán bộ, công chức, chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” đã thảo luận chi tiết năng lực quản lí cần thiết của cán bộ công chức cấp xã cũng nhƣ một số tiêu chí nhất định để đánh giá năng lực quản lí của họ.
Tuy nhiên những tiêu chí đƣa ra chƣa thực sự điển hình, đặc thù để đánh giá năng lực quản lí. Khi đánh giá về thực trạng đội ngũ cán bộ công chức trên phƣơng diện kỹ năng và phƣơng pháp quản lí thì còn đơn giản, chƣa chỉ ra những số liệu cụ thể. Các công trình trên chủ yếu tập trung đánh giá về chất lƣợng cán bộ nhƣ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ học vấn, chuyên môn. chƣa đánh giá sâu sắc về năng lực quản lý của ngƣời cán bộ quản lý cấp xã.
Hoặc có đánh giá về năng lực quản lý nhƣng chƣa gắn với những tiêu chí đặc trƣng của quản lý, chƣa gắn với hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, với yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc. Việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc của cán bộ quản lý cấp xã ở Huyện Phù Cừ, một huyện nông nghiệp nhƣng giàu tiềm năng khai thác ở tỉnh Hƣng Yên hiện nay, chƣa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống. Cho nên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào công tác cán bộ của huyện nhà. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý cán bộ cấp xã 1.
Khái niệm “cán bộ” Từ lâu, ngƣời dân Việt Nam dành gọi từ “cán bộ” một cách trân trọng cho những ai làm việc cho nhà nƣớc nói chung. Và trong tâm trí của mọi ngƣời thì cán bộ chính là cầu nối giữa dân với Đảng, nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là ngƣời đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”. Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên thì “cán bộ” đƣợc hiểu là: 1.
Ngƣời làm việc trong cơ quan nhà nƣớc - cán bộ nhà nƣớc. Ngƣời giữ chức vụ, phân biệt với ngƣời bình thƣờng, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nƣớc". Theo quy định của Nghị quyết Trung ƣơng 5 khoá IX: Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách. Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động, làm việc công để thực hiện chức trách đƣợc giao, bao gồm: Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: Cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND những ngƣời đứng đầu Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Cán bộ không chuyên trách là những ngƣời chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động. Căn cứ hƣớng dẫn của Trung ƣơng, UBND cấp tỉnh quy định khung về số lƣợng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở (kể cả trƣởng thôn). Mặc dù khái niệm “cán bộ” đƣợc sử dụng trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau với những cách hiểu khác nhau nhƣng quan niệm chung nhất về cán bộ đó là: “ngƣời có chức vụ, vai trò và cƣơng vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hƣởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hƣớng sự phát triển của tổ chức". Khái niệm cán bộ cấp xã Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật CBCC 2008: Cán bộ xã, phƣờng, thị 12 trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Tại khoản 2, điều 61, chƣơng V của Luật này cũng nói rõ: Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a) Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng uỷ; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phƣờng, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Họ là cán bộ chuyên trách ở cấp xã có chế độ làm việc và đƣợc hƣởng chính sách chế độ về cơ bản nhƣ cán bộ, công chức nhà nƣớc. Nhƣ vậy, trong vai trò quản lý và lãnh đạo, cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam trong biên chế; đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc, gồm những ngƣời đƣợc bầu giữ chức vụ Bí thƣ, phó bí thƣ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế -xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phƣờng, thị trấn. Vai trò của cán bộ cấp xã Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy.
Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt”, "muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém". Và Ngƣời khẳng định: “Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm đƣợc việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Vai trò của ngƣời cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí 13 Minh, đƣợc thể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đƣờng lối chính sách, cán bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng.
Cán bộ không chỉ là ngƣời vạch ra đƣờng lối mà còn có vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện đƣờng lối. Cán bộ phải sâu sát quần chúng, nắm bắt kịp thời và phản ánh tình hình đời sống, tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân với Đảng và Nhà nƣớc để quyết định đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách hợp lòng dân. Đối với cấp xã, cấp gần dân nhất, điều này càng đặc biệt quan trọng. Ngƣời chỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng" và “Đồng chí nào ở xã, làm tốt là anh hùng.