PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thuế là một thực thể pháp lý nhân định, sự ra đời và tồn tại của Thuế gắn liền với phạm trù nhà nƣớc và pháp luật. Ở bất kỳ nƣớc nào hệ thống pháp luật về Thuế là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Nhà nƣớc. Ở Việt nam cơ quan Thuế là đơn vị thuộc Nhà nƣớc, là cơ quan quản lý Nhà nƣớc thay mặt Nhà nƣớc quản lý và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực Thuế, có trách nhiệm quản lý các hoạt động của các thành phần kinh tế trong xã hội và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện là công cụ thực thi các chính sách Thuế của Nhà nƣớc.
Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội (KT-XH) quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trƣờng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn đề KT-XH đất nƣớc, góp phần vào tích luỹ ngân sách, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế. Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một tài nguyên, một nguồn lực. Bởi vậy, việc phát triển con ngƣời - phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Đầu tƣ vào con ngƣời là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Việt Nam đang bƣớc vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Vận mệnh của đất nƣớc, tƣơng lai phát triển, khả năng đi lên của Việt Nam đều phụ thuộc vào chính bản thân con ngƣời Việt Nam. Vì vậy, để phát triển đất nƣớc, chúng ta không thể không quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan tâm chăm sóc, bồi dƣỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả trên con đƣờng phát triển. Nguồn lực con ngƣời nói chung và nguồn nhân lực xét trên khía 1 cạnh độ tuổi lao động là nguồn lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội. Trên phạm vi rộng hơn thì con ngƣời đứng ở trung tâm của sự phát triển là tác nhân và là mục đích của sự phát triển. Nhận thức đƣợc vai trò của nguồn nhân lực, Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: "Lấy việc phát huy nguồn lực con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững", "nâng cao dân trí, bồi dƣỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngƣời Việt Nam là nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa" Mỗi một giai đoạn lịch sử, một trình độ phát triển đòi hỏi một nguồn lực phù hợp.
Trong xu thế kinh tế trí thức và toàn cầu hóa, nguồn nhân lực có sức khỏe, học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đƣợc coi là một điều kiện để tăng trƣởng nhanh, rút ngắn khoảng cách tụt hậu. Hiện nay trong quá trình hội nhập toàn cầu chất lƣợng nguồn nhân lực của đội ngũ cán bộ công chức của nƣớc ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính vì lẽ đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu chung về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và công tác cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; Tăng cƣờng tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ.
Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nƣớc. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những ngƣời không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân”. Nguồn nhân lực Cục Thuế tỉnh Thuế Bắc Ninh nói riêng và ngành Thuế Việt Nam nói chung những năm qua mặc dù đã tăng về chất lƣợng và sự thay đổi về cơ cấu nhƣng so với yêu cầu của công cuộc cải cách và hiện đại hoá ngành Thuế đã đƣợc Chính phủ phê duyệt thì vẫn còn nhiều điều bất cập. Trong đó có một bộ phận cán bộ, công chức quản lý Thuế yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp 2 vụ, kỹ năng nghề nghiệp, chƣa tận tâm với công việc.
Đạo đức lối sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử còn hạn chế. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ngành Thuế đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức Thuế phải đƣợc đào tạo, rèn luyện để có tƣ cách đạo đức tốt, có tƣ duy mới, phong cách làm việc khoa học, hiểu biết sâu rộng về nghiệp vụ và thành thạo kỹ năng quản lý Thuế. Chính vì vậy, nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức, củng cố đội ngũ công chức Thuế tiến lên chính quy, hiện đại đang là yêu cầu hết sức cấp bách, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách và hiện đại hoá hệ thống Thuế. Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, góp phần thiết thực triển khai thực hiện Chiến lƣợc cải cách hệ thống Thuế.
Câu hỏi nghiên cứu: Một là, các yếu tố nào ảnh hƣởng đến chất lƣợng nguồn nhân lực? Hai là, Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh nhƣ thế nào? Có những ƣu điểm và hạn chế ra sao? Nguyên nhân của những hạn chế đó là gì? Ba là, cần thực hiện những giải pháp nào để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới? 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu a) Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ở Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, đề tài đƣa ra những quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ở Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh với mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có số lƣợng, cơ cấu hợp lý, có chất lƣợng cao, đào tạo, bồi dƣỡng chuẩn hóa nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chính trị, có đủ kiến thức, kỹ năng làm việc đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. b) Nhiệm vụ nghiên cứu 3 - Hệ thống hoá cơ sở lý luận cho nghiên cứu về chất lƣợng nguồn nhân lực - Phân tích, đánh giá thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh. - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu a) Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh hiện tại bao gồm công chức các Phòng, các Chi cục Thuế Huyện, Thị xã, Thành phố và giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo. b) Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh - Về thời gian: Nghiên cứu đƣợc thực hiện thông qua các dữ liệu đƣợc thu thập trong giai đoạn 2012-2016. Những đóng góp của luận văn Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực. Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh.
Qua nghiên cứu này, luận văn sẽ đƣa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo. Kết cấu của luận văn: Đề tài nghiên cứu gồm 4 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng nâng cao chất lƣợng ngồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp, kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong nƣớc và trên thế giới Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế trí thức và toàn cầu hoá, vấn đề chất lƣợng nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực đã đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là các quốc gia phát triển. Ở đây, Đề tài xin nêu một số công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nƣớc sau: 1.1 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước Một nghiên cứu của William R.Racey trong cuốn The Human Resources Glossary: The Complete Desk Reference for HR Executives, Managers, and Practitioners (1991) đã nhìn nhận nguồn nhân lực của tổ chức là tất cả những người làm việc trong tổ chức đó, là tài sản của tổ chức đó nhưng không giống tài lực hay vật lực, mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho tổ chức. Chính vì có quan niệm nhƣ vậy nên việc đánh giá tài sản đó có chất lƣợng hay không thì phải có kiến thức để làm việc, có ý thức làm việc để tạo ra của cải làm giàu cho tổ chức.
Tác giả Gill Palmer – Trƣờng đại học Wollongong (New South Wales, Australia), Bà đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học khác nhau. Đặc biệt trong cuốn British Industrial Relations (1993) cùng với tác giả Howard F.Gospel, đã tìm hiểu mối quan hệ giữa người LĐ và người sử dụng LĐ trong quan hệ LĐ ở Anh và đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực thông qua mối quan hệ đó. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có môi trƣờng, điều kiện sống và làm việc, tốc độ phát triển kinh tế không giống nhau nên các đánh giá mang tính chất tham khảo, áp dụng trong từng thời kỳ hoặc thời điểm nhất định.