Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động thẩm định giá tại Việt Nam đã ghi nhận những bước chuyển mình mạnh mẽ trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vào năm 1999, toàn quốc mới chỉ có 2 Trung tâm Thẩm định giá trực thuộc Ban Vật giá Chính phủ với tổng giá trị tài sản thẩm định giai đoạn 1988-2000 đạt khoảng 742 tỷ đồng, góp phần tiết kiệm từ 2% đến 15% chi ngân sách nhà nước. Đến tháng 12 năm 2014, quy mô thị trường đã mở rộng vượt bậc với 170 doanh nghiệp thẩm định giá và 1.231 người được Bộ Tài chính cấp thẻ thẩm định viên về giá. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng về số lượng chưa đồng hành cùng sự cải thiện tương xứng về chất lượng chuyên môn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ những bất cập mang tính cấu trúc trong thực tiễn: 68% doanh nghiệp chỉ duy trì mức tối thiểu 3 thẩm định viên theo quy định pháp lý, khoảng 34% thẩm định viên được cấp thẻ không tham gia hành nghề, cùng với đó là tình trạng cạnh tranh hạ giá dịch vụ không lành mạnh và sự thiếu hụt cơ sở dữ liệu thị trường chuẩn mực.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng hoạt động thẩm định giá, nhận diện nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ định giá tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian hoạt động của các doanh nghiệp thẩm định giá tiêu biểu như Công ty Cổ phần Thông tin và Thẩm định giá miền Nam (SIVC), Công ty Cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam (VVFC) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thẩm định giá Hoàng Quân trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở luận cứ phục vụ mục tiêu chuẩn hóa 2.200 thẩm định viên chuyên nghiệp vào năm 2020 theo đề án của Bộ Tài chính, nâng cao chỉ số an toàn tài sản cho hệ thống tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận quản trị chất lượng dịch vụ thông qua mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI - American Customer Satisfaction Index). Mô hình ACSI chỉ rõ giá trị cảm nhận chịu tác động trực tiếp từ sự kỳ vọng ban đầu và chất lượng dịch vụ cảm nhận trong thực tế. Do kết quả thẩm định mang tính ước tính độc lập và khách quan, việc kiểm soát chất lượng đòi hỏi doanh nghiệp phải minh bạch hóa cơ sở dữ liệu và phương pháp định giá nhằm định hình kỳ vọng hợp lý cho khách hàng. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter để phân tích áp lực từ đối thủ tiềm năng gia nhập ngành, quyền lực đàm phán của khách hàng, nguy cơ từ dịch vụ thay thế và mức độ cạnh tranh nội bộ giữa các doanh nghiệp thẩm định giá.

Khái niệm thẩm định giá được chuẩn hóa theo quy định tại Luật Giá số 11/2012/QH13 cùng hệ thống quan điểm học thuật quốc tế của Seabrooke và Lim Lan Yuan. Về mặt kỹ thuật chuyên ngành, luận văn hệ thống hóa 5 phương pháp thẩm định giá cốt lõi theo Hệ thống Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam:

  • Phương pháp so sánh trực tiếp (Tiêu chuẩn số 07)
  • Phương pháp chi phí (Tiêu chuẩn số 08)
  • Phương pháp thu nhập (Tiêu chuẩn số 09)
  • Phương pháp thặng dư (Tiêu chuẩn số 10)
  • Phương pháp lợi nhuận (Tiêu chuẩn số 11)

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa thống kê định lượng và phân tích định tính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính, báo cáo tài chính và kết quả hoạt động thường niên của 170 doanh nghiệp thẩm định giá, cùng hệ thống văn bản pháp luật như Nghị định 89/2013/NĐ-CP, Nghị định 177/2013/NĐ-CP và Thông tư 46/2014/TT-BTC.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu của 1.231 thẩm định viên được cấp thẻ hành nghề và đi sâu phân tích hoạt động tại các doanh nghiệp đầu ngành (SIVC, VVFC, Hoàng Quân) thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Phương pháp này được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho các phân khúc thẩm định giá bất động sản, máy móc thiết bị và xác định giá trị doanh nghiệp tại cả hai miền Nam – Bắc. Quá trình xử lý số liệu áp dụng phương pháp so sánh, tổng hợp chuỗi thời gian từ năm 2011 đến năm 2014, kết hợp đối sánh kinh nghiệm quốc tế tại Australia (mô hình AVO và Hội đồng API với hơn 7.500 hội viên), Malaysia (hệ thống BVAEA với 5.000 thẩm định viên), Singapore (cơ chế phối hợp IRAS - SISV) và Thái Lan (mô hình PVB - VAT). Việc kết hợp các phương pháp phân tích này giúp nhận diện chính xác các khoảng trống pháp lý và sự mất cân đối cung - cầu nhân lực trong thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại nghịch lý lớn giữa quy mô đào tạo được cấp thẻ và số lượng thẩm định viên hành nghề thực tế. Tính đến tháng 12 năm 2014, toàn quốc có 1.231 người được Bộ Tài chính cấp thẻ thẩm định viên về giá, nhưng chỉ có 805 người đăng ký hành nghề (đạt 66%), còn lại 416 người (chiếm 34%) không tham gia hoạt động nghề nghiệp. Tỷ lệ đỗ qua các kỳ thi sát hạch có xu hướng giảm mạnh: năm 2013 đạt 50,1% (321 thí sinh đỗ trên 640 thí sinh dự thi), nhưng sang năm 2014 giảm xuống chỉ còn 21,4% (194 thí sinh đỗ trên 907 thí sinh dự thi).

Thứ hai, cấu trúc quy mô doanh nghiệp thẩm định giá bị phân hóa manh mún. Số lượng doanh nghiệp thẩm định giá tăng trưởng nhanh từ 75 đơn vị năm 2011 lên 170 đơn vị năm 2014 với 37 chi nhánh, tuy nhiên giai đoạn 2012-2014 mỗi năm đều có 4 doanh nghiệp bị giải thể. Đáng chú ý, có đến 68% số doanh nghiệp chỉ duy trì đúng 3 thẩm định viên để đủ điều kiện pháp lý thành lập theo Điều 39 Luật Giá, 21% doanh nghiệp có từ 4 đến 10 thẩm định viên, 9% doanh nghiệp có từ 10 đến 20 thẩm định viên và chỉ có 2% (tương đương 3 doanh nghiệp lớn) sở hữu quy mô trên 20 thẩm định viên.

Thứ ba, sự suy giảm tính nghiêm ngặt trong quy trình kỹ thuật và mất cân đối sản phẩm dịch vụ. Thực tế ghi nhận nhiều doanh nghiệp để chuyên viên chưa có thẻ tự thực hiện khảo sát hiện trạng tài sản rồi chuyển thẩm định viên ký duyệt, vi phạm trực tiếp Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 05. Cơ cấu doanh thu dịch vụ lệch hẳn về mảng thẩm định giá bất động sản thế chấp phục vụ vay vốn ngân hàng (chiếm trên 70%), trong khi mảng thẩm định giá tài sản vô hình và giá trị doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 15%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế nêu trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ của hành lang pháp lý và chế tài hậu kiểm chưa đủ sức răn đe. Tình trạng thiếu vắng hệ thống thông tin dữ liệu giá quốc gia buộc thẩm định viên phải dựa nhiều vào phán đoán chủ quan, khiến kết quả định giá dễ bị sai lệch khi thị trường biến động.

Khi so sánh với thông lệ quốc tế, Singapore quy định thẩm định viên phải hoàn thành tối thiểu 1 năm tập sự dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nội địa IRAS và Viện SISV trước khi được cấp phép độc lập. Tại Malaysia, Hội đồng BVAEA quản lý thống nhất khung giá dịch vụ và chuẩn mực đạo đức, ngăn chặn triệt để hành vi cho thuê thẻ hành nghề.

Tại Việt Nam, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc hạ giá phí và thỏa hiệp với khách hàng đã làm sai lệch giá trị thị trường của tài sản. Dữ liệu nghiên cứu khi được mô hình hóa qua các biểu đồ phân bố thẩm định viên (Hình 3.1) và các bảng thống kê kết quả hoạt động giai đoạn 2011-2014 (Bảng 3.3, Bảng 3.4) cho thấy một bức tranh rõ nét: quy mô doanh nghiệp phát triển nóng nhưng chiều sâu chất lượng chưa theo kịp, tạo ra rủi ro tiềm ẩn cho việc định giá tài sản bảo đảm trong hệ thống ngân hàng thương mại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và chuẩn hóa điều kiện hành nghề. Bộ Tài chính cần sớm ban hành các thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Giá số 11/2012/QH13 và Nghị định số 89/2013/NĐ-CP; đồng thời nâng quy định điều kiện thành lập doanh nghiệp thẩm định giá từ tối thiểu 3 thẩm định viên lên ít nhất 5 thẩm định viên hành nghề trước năm 2018 nhằm sàng lọc các tổ chức quy mô siêu nhỏ hoạt động kém hiệu quả.

Thứ hai, đổi mới chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng sát hạch chuyên môn. Cục Quản lý giá phối hợp với các cơ sở đào tạo (Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Tài chính Marketing) cập nhật toàn diện bộ tài liệu 120 tiết, bổ sung kỹ năng thẩm định tài sản vô hình và áp dụng quy định bắt buộc tập sự hành nghề tối thiểu 12 tháng trước khi dự thi cấp thẻ. Mục tiêu đến năm 2020 phát triển đội ngũ đạt 2.200 thẩm định viên có năng lực chuyên môn cao.

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu giá tài sản quốc gia tập trung. Bộ Tài chính chủ trì thiết lập cổng dữ liệu điện tử tích hợp thông tin giao dịch bất động sản, kết quả đấu thầu mua sắm công và giá trị máy móc thiết bị trên phạm vi toàn quốc trước năm 2017, cung cấp nền tảng tra cứu minh bạch cho 100% doanh nghiệp thẩm định giá đủ điều kiện.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra thực địa và nâng cao vai trò của Hội Thẩm định giá Việt Nam. Cơ quan quản lý cần tiến hành kiểm tra đột xuất tối thiểu 30% số lượng doanh nghiệp mỗi năm, xử lý triệt để hành vi cho thuê thẻ và sai phạm trong khảo sát hiện trạng theo Tiêu chuẩn số 05. Từng bước chuyển giao công tác bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ và kiểm soát đạo đức hành nghề cho Hội Thẩm định giá theo chuẩn mực quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về giá (Cục Quản lý giá – Bộ Tài chính, Sở Tài chính các địa phương): Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện quy chế giám sát 170 doanh nghiệp và xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành giá đến năm 2020.

Thứ hai, ban điều hành các doanh nghiệp thẩm định giá (SIVC, VVFC, Hoàng Quân và các công ty định giá tư nhân): Ứng dụng mô hình ACSI để cải tiến quy trình dịch vụ, cơ cấu lại đội ngũ nhân sự nhằm vượt qua mức tối thiểu 3 thẩm định viên và kiểm soát rủi ro pháp lý trong từng chứng thư thẩm định.

Thứ ba, đội ngũ thẩm định viên về giá và chuyên viên thẩm định tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo quy trình áp dụng 5 phương pháp định giá tiêu chuẩn và các case study thực tế nhằm hạn chế sai số khi định giá tài sản thế chấp và xử lý nợ xấu.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thẩm định giá, Tài chính - Ngân hàng: Khai thác hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2011-2014 về 1.231 thẩm định viên và 5 cơ sở đào tạo đại học để phục vụ công tác giảng dạy và mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao có tới 34% thẩm định viên được cấp thẻ không tham gia hành nghề trong giai đoạn 2011-2014? Tình trạng 416 trên tổng số 1.231 thẩm định viên không đăng ký hành nghề bắt nguồn từ việc nhiều kiểm toán viên chỉ thi lấy thẻ để bổ trợ chuyên môn hoặc chuyển sang các lĩnh vực tài chính khác. Bên cạnh đó, 68% doanh nghiệp chỉ tuyển dụng đúng 3 thẩm định viên nhằm tối thiểu hóa chi phí, khiến thị trường thiếu vị trí việc làm thực tế.

Phương pháp thẩm định giá nào được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay? Phương pháp so sánh trực tiếp theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá số 07 được áp dụng nhiều nhất, chiếm trên 75% các hợp đồng thực tế. Phương pháp này có ưu điểm trực quan, dễ thực hiện và phản ánh sát giá thị trường thông qua việc so sánh từ 3 đến 6 tài sản tương đồng đã giao dịch thành công.

Mô hình ACSI hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định giá như thế nào? Mô hình ACSI xác định rằng mức độ hài lòng của khách hàng phụ thuộc vào khoảng cách giữa kỳ vọng ban đầu và chất lượng cảm nhận thực tế. Do thẩm định giá là dịch vụ tư vấn độc lập, doanh nghiệp cần chuẩn hóa chứng thư và giải trình minh bạch căn cứ định giá để khách hàng nhận thức đúng giá trị tài sản.

Quy định điều kiện tối thiểu 3 thẩm định viên để lập doanh nghiệp dẫn đến những hạn chế gì? Quy định này khiến 68% doanh nghiệp duy trì quy mô siêu nhỏ, dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh bằng cách hạ giá phí dịch vụ. Nhiều công ty vi phạm Tiêu chuẩn số 05 khi để nhân viên chưa có thẻ đi khảo sát hiện trạng thay cho thẩm định viên chính thức.

Việt Nam có thể áp dụng bài học gì từ mô hình quản lý của Singapore và Australia? Việt Nam có thể tiếp thu quy định bắt buộc 1 năm thực tập thực tế dưới sự giám sát của cơ quan thuế IRAS từ Singapore, đồng thời học tập Australia trong việc phát huy vai trò của Viện API với hơn 7.500 hội viên để nâng cao chuẩn mực đạo đức và năng lực tự quản của tổ chức nghề nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chất lượng thẩm định giá qua mô hình ACSI, mô hình 5 lực lượng cạnh tranh và 5 phương pháp thẩm định giá chuẩn mực.
  • Nghiên cứu phản ánh bức tranh thực trạng giai đoạn 2011-2014 với dữ liệu thực tế từ 170 doanh nghiệp và 1.231 thẩm định viên được cấp thẻ.
  • Chỉ rõ 3 nút thắt cơ bản: 34% thẩm định viên không hành nghề, 68% doanh nghiệp ở quy mô tối thiểu 3 người và việc vi phạm quy trình khảo sát theo Tiêu chuẩn số 05.
  • Tổng kết các bài học kinh nghiệm quản lý thẩm định giá công - tư từ các quốc gia phát triển gồm Australia, Singapore, Malaysia và Thái Lan.
  • Đề xuất hệ sinh thái 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện pháp lý, nâng chuẩn đào tạo, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và tăng cường thanh tra giám sát.

Đóng góp trọng tâm của công trình là cung cấp hệ thống giải pháp khả thi giúp hiện thực hóa mục tiêu đào tạo 2.200 thẩm định viên đạt chuẩn vào năm 2020 theo định hướng của Bộ Tài chính. Các cơ quan quản lý, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp triển khai đồng bộ các khuyến nghị trên để thúc đẩy thị trường thẩm định giá Việt Nam phát triển minh bạch, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế bền vững.