Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1. Những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm; lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ 1. Lao động, việc làm và giải quyết việc làm Lao động: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động. Nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động có mục đích và có ý thức của con người tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.
Vì vậy, lao động là một hoạt động đặc thù riêng có của con người, là ranh giới để phân biệt giữa con người với các loài động vật; trong quá trình lao động sản xuất, con người không những tạo ra của cải, mà còn phát triển cả về thể lực và trí lực của bản thân con người. Theo Các Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”[5, tr. Từ khái niệm lao động, có thể thấy lao động là quá trình con người sử dụng sức lực tiềm tàng trong bản thân mình, kết hợp sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để biến đổi nó phục vụ cho mục đích của mình. Do đó, lao động là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội; là nguồn gốc để tạo ra mọi của cải trong xã hội.
Việc làm: Việc làm và thu nhập của người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của người lao động và của mỗi quốc gia, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về 8 việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Việc làm đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan tâm ngay từ khi được thành lập năm 1919.
Hội nghị đầu tiên của tổ chức này đã thông qua công ước về thất nghiệp và yêu cầu các quốc gia hội viên phải báo cáo những biện pháp thi hành chế độ chống thất nghiệp. Hội nghị của ILO năm 1944 đã tán thành tuyên bố Phi - la - đen - phia kêu gọi đảm bảo việc làm đầy đủ và nâng cao tiêu chuẩn sinh hoạt mà mục tiêu của nó đến nay vẫn còn giá trị. Theo ILO, việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, ILO đã đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [4, tr.
Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm cũng được thể hiện rõ nét trong Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2007. Điều 13, Chương II chỉ rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [18]. Từ đó có thể hiểu, việc làm là các hoạt động thuộc tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ do người lao động tiến hành mà không bị pháp luật ngăn cấm để nhận tiền công, tiền lương hoặc thù lao lao động cho công việc đó, hoặc những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân, tạo ra thu nhập hợp pháp cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc được trả công bằng hiện vật. Như vậy, việc làm không bao gồm mọi hoạt động lao động, chỉ có những hoạt động lao động thỏa mãn cả hai điều kiện là: hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm ( tính pháp lý của việc làm) và hoạt động đó mang lại lợi ích và thu nhập cho người lao động, gia đình và xã hội ( tính mục đích của việc làm).
9 Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được toàn thế giới cam kết trong tuyên bố về chương trình hành động toàn cầu tại thủ đô Côpenhaghen ( Đan Mạch) vào tháng 3/1995. Có thể hiểu, giải quyết việc làm cho người lao động là tạo ra các cơ hội cho người lao động chưa có việc làm được làm việc để có thu nhập nhằm đảm bảo cho cuộc sống của bản thân, gia đình và góp phần thúc đẩy đảm bảo an sinh xã hội. Mục đích của việc giải quyết việc làm là nhằm khai thác và phát huy mọi tiềm năng lao động dồi dào trong mỗi con người để đạt được mức việc làm hợp lý và có hiệu quả; tạo cho con người thực hiện được quyền và nghĩa vụ lao động của mình. Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ dừng lại ở việc tạo ra việc làm mà phải hướng tới nâng cao chất lượng lao động và chất lượng việc làm nhằm tạo ra việc làm bền vững, đem lại điều kiện lao động tốt và thu nhập đảm bảo cho người lao động.
Đó cũng chính là tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác giải quyết việc làm. Quá trình giải quyết việc làm là sự tác động giữa chủ thể xã hội và người lao động nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, đem lại việc làm đầy đủ và thu nhập ổn định nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác giải quyết việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “Giải quyết việc làm là một trong những chính sách cơ bản của quốc gia” [13, tr. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải huy động mọi nguồn lực để thực hiện một cách hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho người lao động “Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều lao động” [13, tr. 10 Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động là tổng thể các giải pháp, chính sách kinh tế, xã hội tác động đến người lao động nhằm tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm và thu nhập ngày càng cao. Lao động nữ, việc làm của lao động nữ và giải quyết việc làm cho lao động nữ Lao động nữ Lao động nữ là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động quốc gia, bao gồm một bộ phận dân cư là nữ trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, đang có việc làm hoặc không có việc làm, mong muốn có việc làm. Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 18 - 55 tuổi có khả năng lao động, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp.
Như vậy trong nội hàm của lao động nữ không bao gồm bộ phận nữ sinh ở các trường phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, cao đẳng, đại học, phụ nữ làm việc nội trợ, chăm sóc gia đình, không tham gia hoạt động kinh tế, những phụ nữ ốm đau, dị tật bẩm sinh, không có khả năng lao động hoặc bị mất khả năng lao động, những phụ nữ không có nhu cầu làm việc. Do đó, lực lượng lao động nữ bao gồm những phụ nữ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những phụ nữ thất nghiệp nhưng đang có nhu cầu và mong muốn tìm kiếm việc làm. Việc làm của lao động nữ Là một lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, lao động nữ có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội nên vấn đề việc làm cho lao động nữ là một vấn đề được quan tâm đặc biệt. Vấn đề việc làm cho lao động nữ đã được đặt ra rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau: Các Mác đã đề cập đến việc làm cho lao động nữ trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Theo Mác, khi nền sản xuất tư bản 11 chủ nghĩa hình thành và phát triển, máy móc dần thay thế cho con người trong một số công việc nặng nhọc mà trước kia chỉ có lao động nam mới có thể đảm nhận. Người lao động chuyển từ chỗ lao động trực tiếp, nay trở thành người điều khiển sự vận hành của nó mà không cần thiết phải sử dụng nhiều sức lực nên đã tạo điều kiện cho lao động nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất với những công việc mà phụ nữ có thể đảm đương được phù hợp với sức khỏe của mình “ Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên nó trở thành một công cụ để sử dụng những người lao động không có sức bắp thịt hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân tay lại mềm mại hơn. Vì vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói đầu tiên của nó là Lao động phụ nữ và trẻ em” [ 6, tr. Tổ chức Lao động quốc tế đã bàn về việc làm cho lao động nữ trong Điều 8 Công ước xúc tiến việc làm năm 1988.
Họ cho rằng mỗi quốc gia cần căn cứ vào đặc điểm thực tiễn của mình để tạo mọi điều kiện giúp đỡ những bộ phận yếu thế, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm như lao động nữ “Tuỳ theo thực tiễn và pháp luật hoặc quy định quốc gia mỗi nước thành viên sẽ cố gắng thiết lập chương trình đặc biệt để khuyến khích những cơ hội có việc làm thêm và sự trợ giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả những loại người bị bất lợi đã được xác định có thể bị khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài như phụ nữ, thiếu niên, người bị khuyết tật, người thất nghiệp vĩnh viễn, người lao động di trú hợp pháp tại nước thành viên và những người lao động dôi ra do thay đổi cơ cấu” [10].