Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phổ cập tài chính - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Đánh giá thực trạng phổ cập tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - Chương 4: Giải pháp nâng cao mức độ phổ cập tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ CẬP TÀI CHÍNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Phổ cập tài chính là một thành phần thiết yếu của quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về phổ cập tài chính, mức độ phổ cập tài chính của các quốc gia, cũng như phổ cập tài chính của SMEs. Các nghiên cứu nước ngoài Demirgüç-Kunt, A.
“Measuring financial inclusion: The global findex database”. Bài báo này cung cấp phân tích đầu tiên về Cơ sở dữ liệu phổ cập tài chính, Global Findex), một bộ chỉ số mới đo lường cách người trưởng thành trong 148 nền kinh tế thực hiện tiết kiệm, vay, thanh toán và quản lý rủi ro. Dữ liệu cho thấy 50% người trưởng thành trên toàn thế giới có tài khoản tại một tổ chức tài chính chính thức, mặc dù sự thâm nhập tài khoản thay đổi rất nhiều giữa các vùng, các nhóm thu nhập và các đặc điểm riêng. Ngoài ra, 22 % người trưởng thành báo cáo đã được lưu hồ sơ tại một tổ chức tài chính chính thức trong vòng 12 tháng và 9 % phần trăm báo cáo đã thực hiện một khoản vay mới từ ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tài chính vi mô trong năm qua.
Mặc dù một nửa số người trưởng thành trên khắp thế giới vẫn chưa được kiểm soát, ít nhất 35 phần trăm trong số họ báo cáo các rào cản đối với việc sử dụng tài khoản có thể được giải quyết bằng chính sách công. Trong số các rào cản được báo cáo phổ biến nhất là chi phí cao, khoảng cách vật lý và thiếu tài liệu phù hợp, mặc dù có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng và các đặc điểm riêng lẻ. “Mearsuring financial inclusion: A muldimensional index”. Nghiên cứu dựa vào nhu cầu và thông tin phía cung để đo lường mức độ phổ cập tài chính ở cấp quốc gia cho tám mươi hai quốc gia phát triển và kém phát triển.
Nghiên cứu đề xuất mức độ phổ cập tài chính được xác định bởi ba khía cạnh: sử dụng, rào cản và quyền truy cập vào phổ cập tài chính. Trọng số được gán cho các tham số được xác định nội sinh bằng cách sử dụng phân tích 6 thành phần chính hai giai đoạn, a two-stage Principal Component Analysis). Chỉ số tổng hợp được nghiên cứu cung cấp là một thước đo toàn diện về mức độ phổ cập tài chính, dễ hiểu và dễ tính toán. Bassay Ina Ibor và các cộng sự, 2016).
“Financial inclusion and performance of micro, small and medium scale enterprises in Nigeria”. Nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của tiếp cận tài chính lên hoạt động của doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ ở Nigeria. Thông qua kết quả điều tra tổng hợp từ 596 bảng hỏi, trên tổng số 600 bảng hỏi phát ra) và sử dụng kỷ thuật Pearson Chi-square, kết quả cho thấy phổ cập tài chính tác động mạnh và tiêu cực lên sự hoạt động và phát triển cua MSMEs, khoảng cách tiếp cận dịch vụ tài chính và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ và hiệu quả của tiếp cận tài chính của MSMEs tại Nigeria. Nghiên cứu khuyến nghị cần có sự mở rộng các điểm dịch vụ tài chính tới vùng nông thôn kết hợp với sự phát triển cơ sở hạ tầng để đẩy mạnh tài chính.
Bên cạnh đó việc đưa các dịch vụ tài chính tới các khu vực hiện chưa có ngân hàng cũng như chưa tiếp cận tới các dịch vụ tài chính. Bên cạnh đó thanh toán điện tử nên được đầu tư và mở rộng như phát triển công cụ ICT/E-banking và bảo vệ thông tin khách hàng. Bandar Waked, 2016, “Access to Finance by Saudi SMEs: Constraints and the Impact on their Performance” Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ tới các ngân hàng của Saudi Arabia và chỉ ra những chướng ngại mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đất nước này đang phải đối đầu. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 270 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Saudi Arabia, và phỏng vấn 5 ngân hàng và bốn quỹ tín dụng.
Dữ liệu được xử lý qua các phương pháp: phân tích mô tả, chi-square tests, t-tests, correlation tests, variance analysis. Nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại những mối quan hệ chặt chẽ giữa đặc điểm của chủ sở hữu, như trình độ đào tạo và kinh nghiệp) và đặc trưng của doanh nghiệp, như quy mô doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, tính khả thi của kế hoạch kinh doanh, và các chỉ tiêu tài chính) và những khó khăn doanh nghiệp phải đối mặt khi tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng, cũng như tiếp cận các quỹ thuộc ngân hàng Saudi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn các chủ doanh nghiệp thất bại 7 trong tiếp cận vốn vì không đáp ứng được điều kiện về tài sản thế chấp, tình hình tài chính chưa tốt, kế hoạch kinh doanh chưa thuyết phục, thông tin thiếu minh bạch. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 66% SMEs được khảo sát) ở các thành phố lớn.
Các doanh nghiệp ở nhưng khu vực khác có kiều kiện kém hoặc không có websites hay thư điện tử để có thể tiếp tập dẫn tới hạn chế về mặt dữ liệu. Nghiên cứu đo lường sự mất khả năng tiếp cận tài chính từ các ngân hàng Saudi trên cơ sở tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua năm chỉ số tài chính, ROI, lợi nhuận ròng, doanh thu thuần, đòn bẩy kinh doanh và tốc độ tăng trưởng). “Influence of financial inclusion on small and medium enterprises growth and development in Nigeria” Nghiên cứu đã kiểm tra sự ảnh hưởng của các thước đo phổ cập tài chính, mobile banking, dịch vụ ngân hàng và mức độ thâm nhập dịch vụ ngân hàng) lên sự tăng trưởng và phát triển của SMEs tại Nifgeria. Nghiên cứu đã khảo sát 625 công ty vừa và nhỏ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thước đo phổ cập tài chính, mobile banking, dịch vụ ngân hàng và mức độ thâm nhập dịch vụ ngân hàng) có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ lên sự tăng trưởng và phát triển của SMEs. Cũng như sự phổ biến của Automated Teller Machines, ATMs), Point of Sale Terminals, POS) và Deposit Machines cũng như các chi nhánh ngân hàng ở khu vực nông thôn luôn gắn liền với sự tăng trưởng và phát triển của SMEs tại khu vực này. Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu khảo sát những đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ trong các lĩnh vực bánh ngọt, đóng gạch, dệt vải và làm tóc với quy mô lao động từ 2 tới 10 nhân công.Garang, 2014, “The Financial Sector and Inclusive Development in Africa: Essays on Access to Finance for Small and Medium-sized Enterprises in South Sudan and Kenya” Công trình nghiên cứu gồm ba phần dựa trên dữ liệu thu thập từ ngân hàng và SMEs tại Kenya và Nam Saudi. Phần thứ nhất xem xét vai trò của phát triển ngành tài chính trong việc mở rộng khả năng tiếp cận tài chính của 8 SMEs tại Kenya.
Phần thứ hai, đánh giá việc tiếp cận tài chính của SMEs tại Nam Sudan dựa trên một cuộc khảo sát dựa trên mười tình của nước này, kết quả cho thấy kích thước doanh nghiệp và khoảng cách từ doanh nghiệp tới thủ đô, trung tâm tài chính) có liên quan nghịch với việc tiếp cận tài chính của SMEs. Phần thứ 3, rút ra bài học kinh nghiệm của Kenya, đưa ra các giải pháp về dịch vụ sáng tạo cho SMEs tại Nam Saudi. Nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khảo sát không bao gồm những doanh nghiệp đã dừng hoạt động trước thời điểm tiến hành khảo sát. Nghiên cứu có khảo sát một số khu vực thuộc Kenya và Nam Sudan nên tính đại diện của dữ liệu mang tính mở.
Khảo sát có thao khảo một số trợ lý thuộc cả hai quốc gia nên ý kiếm chủ quan của những đối tượng này có thể ảnh hưởng tới việc lựa chọn nơi nào hoặc công ty nào để tiến hành khảo sát dẫn đến tính đại diện cuối cùng có thể bị ảnh hưởng. Và số lượng mẫu ngân hàng ở Kenya nhỏ hơn số lượng mẫu ngân hàng ở Nam Saudi. Xiuhua Wang & Jian Guan, 2016, “Financial inclusion: measurement, spatial effects and influencing factors” Nghiên cứu đo lường mức độ phổ cập tài chính giữa các quốc gia dựa trên chỉ số tài chính và cơ sở dữ liệu Global Findex của Ngân hàng Thế Giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa các khu vực địa lý, các nước phát triển ở châu Âu và bắc Mỹ có mức độ tiếp cận tài chính trong phổ cập tài chính hơn các nước phát triển ở Châu Phi và phần lớn các nước thuộc châu Á.
Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng lớn tới phổ cập tài chính, kết quả cho thấy các nhân tố thu nhập, giáo dục và sử dụng truyền thông của một cá nhân là những yếu tố quan trọng giải thích mức độ phổ cập tài chính; trong khi độ sâu tài chính, financial depth) và trạng thái sức khỏe của ngân hàng, banking health status) là những yếu tố mang tính quyết định chính. Tuy nhiên, nghiên cứu phân tích dưới góc nhìn rộng về phổ cập tài chính, là khả năng đảm bảo cho con người tiếp cận được các dịch vụ tài chính trong bối cảnh sâu và rộng. Bên cạnh đó hạn chế về số liệu, nên nghiên cứu chỉ có dữ liệu của một năm nên không thể đưa ra kết luận về vấn đề khi các yếu tố thay đổi thì phổ cập tài 9 chính thay đổi như thế nào. Cũng như sự thiếu dữ liệu của một số quốc gia dẫn tới kết quả về nguyên nhân gây ra sự không đồng nhất về mức độ phổ cập tài chính giữa các quốc gia chưa thực sự thuyết phục.
Các nghiên cứu trong nước Mặc dù phổ cập tài chính đang còn là một lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên cũng đã có một số nhà khoa học tiến hành nghiên cứu về vấn đề này và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Nguyễn Đăng Tuệ & Trương Thu Hương, 2017). Đo lường phổ cập tài chính tại Việt Nam.