Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ THỜI KỲ HY LẠP CỔ ĐẠI Chủ nghĩa Khắc kỷ (tiếng Hy Lạp: Στωικισμός, tiếng Anh: Stoicism) là một trong những trường phái quan trọng của triết học Hy Lạp cổ đại. Nó chính thức bắt đầu vào khoảng năm 301 TCN do Zeno (336 - 264 TCN) người Citium sáng lập và kết thúc vào khoảng năm 200 sau Công nguyên. Tư tưởng chính của chủ nghĩa Khắc kỷ là rèn luyện tinh thần con người trở nên cứng cỏi, kiểm soát cảm xúc, bình tĩnh khi đối mặt trước những nỗi đau và áp lực, để hướng đến một cuộc sống hoàn thiện. Lịch sử ra đời và tồn tại của chủ nghĩa Khắc kỷ được chia thành ba thời kỳ chính: sơ kỳ (301 TCN - đầu TK II TCN), trung kỳ (TK II TCN - TK I TCN) và hậu kỳ (TK I TCN - TK II).
Mỗi một giai đoạn gắn với những biến đổi về chính trị - xã hội nên trong tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ cũng mang những nét đặc trưng riêng biệt. Thời kỳ sơ kỳ, các triết gia tiêu biểu là: Zeno (336 - 264 TCN) xứ Citium và Chrysippus (280 - 206 TCN). Tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ thời kỳ này là tiếng lòng của tầng lớp dân thường, nô lệ, nhằm tìm ra lẽ sống, chân lý mới về hạnh phúc và con đường đi đến hạnh phúc trong xã hội nhiều bất trắc. Thời kỳ trung kỳ, các triết gia tiêu biểu là: Panaetius (185 - 112 TCN) và Posidonius (135 - 51 TCN).
Trong giai đoạn La Mã đổ bộ mạnh mẽ tấn công vào Hy Lạp, những thương nhân giàu có, giới thượng lưu mang văn hóa Hy Lạp đi kết nối, để tạo dựng mối quan hệ mật thiết với nhiều người trong giới cầm quyền, nhằm hưởng sự ưu ái, che chở. Vì vậy, tư tưởng đạo đức của chủ 14 nghĩa Khắc kỷ thời kỳ này mang tính chất chiết trung, làm mất đi sự khổ hạnh, cam chịu vốn có. Thời kỳ hậu kỳ, các triết gia tiêu biểu là: Seneca (4 TCN - 65), Epictetus (55 - 135) và Antoninus (161 - 180). Mặc dù bị La Mã chiếm đóng, nhưng tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ được đón nhận, chú trọng phát triển và trở thành vũ khí hỗ trợ chính sách cai trị của tầng lớp cầm quyền.
Từ những đặc trưng riêng biệt trên, có thể thấy, bất kỳ một trường phái triết học nào cũng ra đời trong điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội tương ứng. Tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ thời kỳ Hy Lạp cổ đại cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong chương này, luận văn sẽ trình bày những điều kiện lịch sử - xã hội và tiền đề lý luận ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ thời kỳ Hy Lạp cổ đại. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA CHỦ NGHĨA KHẮC KỶ THỜI KỲ HY LẠP CỔ ĐẠI 1.
Khủng hoảng chính trị Chủ nghĩa Khắc kỷ ra đời và phát triển trong xã hội đầy rẫy sự khủng hoảng về chính trị của thời kỳ Hy Lạp. Sự biến động này bắt nguồn từ năm 323 TCN, sau khi vua Alexander mất. Lịch sử đã chứng kiến một Hy Lạp chuyển mình từ đế quốc rộng lớn bị chia rẽ thành các vương quốc riêng biệt. Sau khi qua đời đột ngột, Alexander Đại đế để lại lãnh thổ rộng lớn mà không có người kế vị rõ ràng.
Những cận vệ quan trọng nhất của ông đã tập hợp lại để thảo luận về tương lai đế chế. Perdiccas (một tướng lĩnh thân cận của vua Alexander) trở thành nhiếp chính - người cầm quyền thay vua quản lý đất nước. Ông đã trao cho các vị tướng trở thành phó vương từng vùng khác nhau: Ptolemy nhận Ai Cập; Antigonus nhận được Phrygia, Lycia và Pamphylia; Lysimachus nhận Thrace; Macedonia và phần còn lại của Hy Lạp nằm dưới sự cai trị chung của Antipater. 15 Từ năm 323 - 281 TCN, hàng loạt cuộc chiến đã diễn ra giữa các tướng người Macedonia, kể cả người nhà hoàng tộc.
Những cuộc chiến đẫm máu, mưu mô, phản bội này còn được gọi là “cuộc chiến Diadochi” - chiến tranh giữa những người kế vị Alexander. Các vị tướng đầy tham vọng đã xâu xé “chiếc bánh ngọt” mà vua Alexander để lại, nhằm mục đích phân chia, thành lập các vương quốc riêng cho mình. Phản ứng đầu tiên của những người Hy Lạp gốc sau khi nghe tin vua Alexander qua đời là nổi dậy chống lại sự cai trị dưới bàn tay người Macedonia, để giành lại những gì vốn thuộc về họ. Năm 323 – 322 TCN, tại những thành phố lớn, bao gồm Athens và liên minh Aetolia (miền trung Hy Lạp) các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tiếp.
Người Rhodians đã đánh đuổi đồn trú binh lính Macedonia, giải phóng thành phố của họ; người Athens bắt đầu cuộc chiến Lamian chống lại Antipater. Tuy nhiên, Antipater đã đàn áp thẳng tay khiến người Hy Lạp bại trận. Giấc mơ quay trở lại nền dân chủ của họ bị dập tắt. Không chỉ vậy, các cuộc nội chiến vẫn diễn ra liên miên, biến Hy Lạp trở thành một vùng lãnh thổ hỗn loạn, chính trị bất ổn.
Chiến tranh Diadochi lần thứ nhất (321 – 319 TCN) xảy ra khi Ptolemy đánh cắp xác vua Alexander đang trên đường gửi đến Macedonia, mang về Ai Cập cất giữ. Perdiccas dẫn quân theo đường sông Nin chống trả Ptolemy nhưng không thành, ông bị sát hại bởi những sĩ quan thân cận của mình là Peithon, Antigenes và Seleukos vào năm 321 TCN. Bố cục chia để trị thay đổi khi Seleukos thay thế Perdiccas quản lý Babylon. Antigonus quản lý vùng Tiểu Á.
Chiến tranh Diadochi lần thứ hai (318 - 316 TCN) là cuộc xung đột giữa liên minh của Polyperchon (nhiếp chính Macedonia lên thay cho Antipater), Olympias (mẹ vua Alexander), Eumenes với liên minh của Cassander (con trai của Antipater), Antigonus, Ptolemy và Lysimachus. Sau cái chết của Antipater năm 319 TCN, Polyperchon được bổ nhiệm làm nhiếp chính và chỉ huy quân 16 đội tối cao của toàn bộ đế chế. Nhưng ông sớm rơi vào cuộc xung đột tranh vị trí với Cassander - con trai của Antipater. Ghi chép lại vấn đề này, Siculus - nhà sử học Hy Lạp cổ đại viết: Polyperchon, người gần như lớn tuổi nhất trong số những người đã tham gia chiến đấu cùng Alexander, được bổ nhiệm làm chỉ huy tối cao… Cassander không tán thành sự sắp xếp của cha mình, cho rằng việc một người không có quan hệ huyết thống kế vị quyền lực là vô lý, ông tự cho mình có khả năng đảm nhiệm công việc.
Ông bí mật cử sứ giả đến Ptolemy, nối lại tình thân, thúc giục ông tham gia liên minh và gửi một hạm đội từ Phoenicia đến Hellespont càng sớm càng tốt.147) Về phần Olympias, lo ngại mối hiểm nguy đe dọa ngai vàng của cháu mình, bà đã ra lệnh xử tử Philip III (vị vua lên nắm quyền tạm thời) vào tháng 10 năm 317 TCN. Bà nhận ra rằng, nếu Cassander còn cai trị thì cháu trai của bà - Alexander IV, sẽ không bao giờ có thể trở thành vua. Do đó, vào năm 317 TCN, bà bắt tay với Polyperchon. Các lực lượng kết hợp của Olympias và Polyperchon đã hành quân vào Macedonia để “hất cẳng” Cassander.
Được sự hỗ trợ của Antigonus, Cassander ngay lập tức tập hợp đội quân chống trả và kết quả đã sát hại Olympias năm 316 TCN, bắt giam vợ con của Alexander. Ông trở thành thế lực thống trị ở châu Âu, cai trị Macedonia và phần lớn Hy Lạp. Sau thua cuộc, Polyperchon vẫn kiểm soát các vùng của Peloponnese (các thành phố thuộc phía Nam bán đảo Hy Lạp). Antigonus (đang kiểm soát vùng Tiểu Á) giết hại Eumenes năm 316 TCN, nay giành quyền kiểm soát thêm vùng Thổ Nhĩ Kỳ.
Như vậy, cuộc chiến tranh Diadochi thứ hai đã xác lập lại vùng cai trị của Cassander và Antigonus. Chiến tranh Diadochi lần thứ ba (315 - 311 TCN) chứng kiến sự thất bại cha con nhà Antigonus. Các tướng lĩnh không hài lòng với việc Antigonus được quản lý châu Á, đòi phân chia lại chiến lợi phẩm trong kho bạc của Eumenes. 17 Cuộc chiến nổ ra với hai phe: Antigonus cùng con trai là Demetrius bắt tay làm hòa với Polyperchon để đối mặt liên minh của Ptolemy, Seleukos, Lysimachus và Cassander.
Trong trận Gaza, Ptolemy và Seleukos xâm lược từ Ai Cập, đánh bại Demetrius. Chiến thắng này làm bàn đạp cho Seleukos giành lại quyền kiểm soát Babylon và các tỉnh phía Đông. Siculus viết “Ở châu Á, sau thất bại của Demetrius tại Gaza ở Syria, Seleukos nhận được từ Ptolemy không quá 800 lính bộ binh và khoảng 200 con ngựa, lên đường đến Babylon” (Siculus, 1993, p. Antigonus đối mặt với nguy cơ sụp đổ vị trí của mình ở phía Đông, ông ký kết một thỏa hiệp hòa bình với Ptolemy, Lysimachus và Cassander.
Hòa bình chính thức được thống nhất vào năm 311 TCN. Antigonus giữ được Tiểu Á nhưng lại để các tỉnh phía Đông rơi vào tay Seleukos. Điều này làm Antigonus tiếp tục tham gia chiến tranh Babylon (311 - 309 TCN) với Seleukos, cố gắng giành lại quyền kiểm soát nhưng không thành. Cũng trong khoảng thời gian đó, để tránh nguy cơ bị cướp ngôi cai trị vùng Macedonia, Cassander đã sát hại Vua Alexander IV khi mới 14 tuổi và Roxane (vợ vua), giáng đòn cuối cùng vào huyết thống của Alexander.
Chiến tranh Diadochi lần thứ tư (307 - 301 TCN) diễn ra bởi liên minh Ptolemy, Seleukos, Lysimachus và Cassander chủ yếu để ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ của Antigonus và con trai ông, Demetrius. Đỉnh điểm là trận chiến cam go Ipus 301 TCN, đã lật lại ván cờ khiến Antigonus bị giết và Demetrius rút lui đến Ephesus. Lysimachus nhận được phía Tây Tiểu Á và Seleukos phần còn lại. Chính sự khốc liệt, phức tạp của các cuộc chiến cộng hưởng với nền dân chủ bị hạn chế đã làm tinh thần người dân thay đổi sâu sắc.
Họ cảm thấy cuộc đời mình thật vô định, bắt đầu ưu tư, lo lắng, mất niềm tin hy vọng vào khoa học, nhà nước và những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Người dân nhận thấy cần phải có sự biến đổi nào đó cho những quan điểm đã lỗi thời. Thay vì nghiên cứu những vấn đề thế giới quan rộng lớn, bao quát tất cả các lĩnh vực tri thức, 18 giờ đây các nhà triết học đào sâu những khía cạnh đạo đức cá nhân. Quan niệm về hạnh phúc cần có những nhận định mới để phù hợp với bối cảnh xã hội đương thời.
Phải sống như thế nào để được an toàn và tránh khỏi đau khổ, bất hạnh giữa thời cuộc loạn lạc không biết hồi kết?