CHƯƠNG 1. NHỮNG DIEU KIỆN, TIEN DE CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CUA CHỦ NGHĨA KHAC KY LA MÃ 1. Những điều kiện kinh tế — xã hội và tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tướng đạo đức của chủ nghĩa khắc kỷ La Mã.1, Những điều kiện kinh tế— xã hội Điều kiện kinh tế: Lịch sử La Mã cổ đại trải qua những cuộc chiến tranh liên tục: chiến tranh Punic (264 — 146 TCN); cuộc chinh phục Hy Lạp. việc đó làm gia tăng lượng của cải của La Mã nhờ những chiến lợi phẩm và đất đai có được sau chiến tranh.
Các ngành nông nghiệp, thương mại và sản xuất của La Mã rất phát triển. Thời kỳ cộng hòa, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu của La Mã. Người ta trồng các loại ngũ cốc, rau củ, nho va ô — liu. Nông nghiệp của La Mã phát triển rất đa dạng và hiệu quả nhờ hệ thống thủy lợi và luân canh cây trồng.
Chăn nuôi cũng chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, sự phát triển của nông nghiệp và chăn nuôi kéo theo sự phát triển của công thương nghiệp. Thời điểm đó, La Mã có nhiều xưởng thủ công nghiệp, chế tạo các sản phẩm như nông cụ, vũ khí, dau ô — liu và rượu nho. Công việc sản xuất chủ yếu được thực hiện bởi các nghệ nhân và nô lệ. Những sản phẩm được làm ra góp phần thúc đây sự phát triển của thương nghiệp, ngoài việc buôn bán sản phẩm từ thủ công nghiệp, các nhà buôn còn buôn bán cả nô lệ.
Thương mại và giao thông vận tải phát triển vô cùng nhanh chóng tạo một mạng lưới thương nghiệp giữa La Mã và khắp vùng Dia Trung Hải. La Mã sở hữu hệ thống mạng lưới đường sá vô cùng thuận lợi cho sự giao thương giữa các khu vực khác nhau. Bên cạnh đường bộ, hàng hóa của La Mã còn được vận chuyên 11 bang đường sông và đường biển. Vận chuyền bằng đường biển rẻ hơn nhiều so với đường sông và đường bộ với tỉ lệ chi phí xấp xi là 1:5:28, nhưng cũng có rất nhiều rủi ro do hoàn cảnh như: sự thay đổi bất thường của thời tiết; trộm cắp do cướp biên và bi hạn chế bởi các mùa trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 (ít nhất) vì quá khó đoán dé có thé di chuyên trên biển một cách an toàn.
Cả ba phương thức vận chuyên hàng hóa này đều phát triển một cách đáng ké ở thé kỉ I và II công nguyên [xem 43]. Đến giữa thế kỷ II TCN, nền cộng hòa La Mã đã sở hữu lượng của cải không lồ. Nhưng đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mối xung đột giai cấp có từ trước đây, thời điểm này, nền cộng hòa sẽ phải sống trong cơn khủng hoảng trong hơn 100 năm. Nông nghiệp vốn là nền tảng xã hội của cộng đồng La Mã và chiến tranh Punic lần II đã thay đổi sự sở hữu tài sản trong xã hội.
Các miền nông thôn bị phá hủy do chiến tranh, tất cả của cải của quốc gia được bảo vệ sau bức tường của thành La Mã. Khi chiến tranh kết thúc, giới quý tộc càng giàu vì chiến lợi phẩm chiến tranh, mua sạch đất đai trồng trọt. Đến giữa thé kỷ II TCN, nền nông nghiệp La Mã bị chi phối hoàn toàn bởi các chủ đồn điền, họ giàu có đến mức không thể tưởng tượng nổi. Những nông dân thì trở nên khánh kiệt và tràn vào các thành phô đê kiêm việc làm.
Ngoài ra, sau khi chiến tranh kết thúc, La Mã được cung cấp cho rất nhiều nô lệ. Dù trước đó, La Mã đã có những lao động là nô lệ, nhưng phải đến thời điểm này thì mới diễn ra sự chuyên đổi từ nền kinh tế lao động làm công sang lao động nô lệ. Cuối thế kỷ II TCN, dân số La Mã phần lớn thuộc tầng lớp nô lệ. Nô lệ có thé có được thông qua chinh phục, buôn bán hoặc sinh ra, tức là cha mẹ là nô lệ thì khi con cái của họ sinh ra cũng sẽ trở thành nô lệ.
Địa vị pháp lý và cách đối xử đối với nộ lệ sẽ khác nhau, nó tùy thuộc vào chủ sở hữu và vai trò của họ. Một số nô lệ có thể giành được tự do thông qua việc được phóng thích bằng cách mua lại tự do của mình, được chủ tặng 12 hoặc di chúc cho phép được tự do. Những người được tự do là những cựu nô lệ có thé trở thành công dân La Mã, nhưng họ vẫn có lòng trung thành và phục vụ chủ cũ của họ, Epictetus cũng là một trong số các trường hợp nô lệ lay lai duoc tu do. Việc sở hữu một lực lượng hùng hậu là nô lệ lam gia tang sự cạnh tranh trong công việc giữa người dân La Mã và nô lệ.
Sự xuất hiện của lao động là nô lệ làm giảm đi cơ hội việc làm và kiếm được thu nhập tốt của người lao động La Mã sốc. Dẫn đến tình trạng nếu họ muốn có công việc, phải chấp nhận việc bị trả lương thấp hơn so với những nô lệ và như thế thì không đủ dé sinh sống. Các cư dan La Mã không còn lựa chọn nào khác là di dan từ thành phố này sang thành phố khác, làm gia tăng mâu thuẫn và nỗi oán hận trong lòng dân chúng, là nguyên nhân dân đên nội chiên sau đó. Nền kinh tế La Mã có đặc điểm là mức độ đô thị hóa và phân tầng xã hội cao.
Tang lớp giàu có sống trong những biệt thự và cung điện sang trọng, trong khi tầng lớp nghèo sống trong những khu chung cu đông đúc và mat vệ sinh. Nền kinh tế đô thị phụ thuộc vào nền kinh tế nông thôn, nơi cung cấp lương thực và nguyên liệu thô. Nền kinh tế nông thôn bị chi phối bởi các điền trang lớn thuộc sở hữu của các chủ đất giàu có, những người sử dụng lao động nô lệ và tá điền. Những người nông dân nhỏ phải đối mặt với những khó khăn kinh tế và áp lực xã hội, nhiều người đã di cư đến các thành phố hoặc gia nhập quân đội.
Đến khi thời kỳ chế độ quân chủ hình thành, lãnh thổ đế quốc La Mã được mở rộng: phía đông bắt đầu từ sông Euphrates, phía tây là ven biển Đại Tây Dương, phía nam là sa mạc Sahara, phía bắc là sông Ranh và sông Danube. Đây cũng là thời kì La Mã đạt được sự phồn thịnh nhất về kinh tế. Trong khu vực Địa Trung Hải, La Mã là nơi thu hút rất nhiều hàng hóa như: nông pham, rượu nho, dau ô — liu, vai vóc, đô gôm, đô kim loại, gỗ quý, nô 13 lệ. Cũng tại kinh thành La Mã, người ta xây dựng rất nhiều đền miếu, cung điện, lâu đài, rạp hát, đấu trường, nhà công cộng, khiến cho La Mã trở thành một thành thị rất đồ sộ, nguy nga.
Thời kỳ này, nô lệ vẫn là lực lượng lao động chính ở La Mã cô đại. Nhung sự phôn thịnh của La Mã không kéo dai được bao lâu. Từ thé kỷ II, chế độ nô lệ La Mã lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng và kéo dài. Về kinh tế, sự khủng hoảng biểu hiện ra ở tình trạng nông nghiệp trì trệ, thương nghiệp suy sụp, thành thị tiêu điều.
Tài chính cạn kiệt và tình trạng lạm phát diễn ra trầm trọng. Các hoàng dé phát hành tiền xu có đóng dau chân dung của họ dé tuyên truyền, tạo thiện chí với công chúng và tượng trưng cho sự giàu có và quyền lực của họ. Nền kinh tế tiền tệ của Dé quốc La Mã thường phải hứng chịu những đợt lạm phát một phần do các hoàng để phát hành tiền dé tài trợ cho các dự án cấp cao của dé quốc như các công trình xây dựng công cộng hoặc các cuộc chiến tốn kém mang lại cơ hội tuyên truyền nhưng ít hoặc không thu được vật chất. Các hoàng dé của triều dai Antonine và Severan nói chung đã phá giá đồng tiền, đặc biệt là đồng denarius, dưới áp lực phải trả lương cho quân đội.
Nền kinh tế hàng hóa tiền tệ của La Mã trước đây vốn phát triển thì lúc này quay trở lại trạng thái của nên kinh tế tự nhiên. Các cuộc chiến tranh không hồi kết và dịch bệnh cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho nền kinh tế của La Mã trở nên đình trệ, ngân khó cạn kiệt. Điều kiện chính trị - xã hội Về chính trị, lịch sử của La Mã bắt đầu hình thành từ một ngôi làng nhỏ ở trung tâm Italy sau đó phát triển thành thủ phủ. Tiếp đến xâm chiếm, kiêm soát một vùng rộng lớn gồm toàn bộ Italy, Nam Châu Âu, Trung Đông và Ai Cập.
La Mã đã trở thành dé chế hùng mạnh nhất trên thế giới vào thời điểm bắt đầu công lịch. Tiến trình lịch sử của La Mã cé đại trải qua ba thời kỳ, theo 14 hình thái chính quyền: Thời kỳ Vương quốc La Mã, còn gọi là thời kỳ La Mã quân chủ (753 TCN — 509 TCN); Thời kỳ Cộng hòa La Mã (509 — 30 TCN) và Thời kỳ Đề quốc La Mã (30 TCN - 476) [xem 18]. Sau khi Lucius Junius Brutus lãnh đạo giới quý tộc lật đô được sự thống trị của người Etruscans vào năm 509 TCN, La Mã bước vào ky nguyên của nền cộng hòa, thể chế cai trị bởi Viện nguyên lão và quốc hội. Lịch sử của Cộng hòa La Mã là lịch sử của những cuộc chiến tranh, là cuộc chinh phục của La Mã dé mở rộng lãnh thổ.
Những cuộc chiến tranh kéo dài khiến cho nền cộng hòa La Mã rơi vào khủng hoảng sâu sắc, từ cuối thế kỷ II TCN, các mâu thuẫn xã hội ngày càng nghiêm trọng: mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ; mâu thuẫn người La Mã và các bộ tộc bi chính phục; mâu thuẫn giữa các chủ nô lệ với nhau; mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn trên dẫn đến những cuộc chiến tranh giai cấp và những cuộc đấu tranh dân tộc, những cuộc nội chiến nhăm tranh cướp chính quyền. Những cuộc nội chiến trong nền cộng hòa La Mã như cuộc nội chiến Gracchus do Tiberius Gracchus va Gaius Gracchus (em trai Tiberius) mâu thuẫn với giới quý tộc và viện nguyên lão về quyền loi và lợi ích. Khi vi quan hộ dân Tiberius Gracchus đại điện cho dân chúng dé nghị giới hạn quyền sở hữu đất đai dưới 640 acre (1 acre ~ 0.