Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về an toàn thực phẩm và vai trò của truyền hình trong truyền thông về an toàn thực phẩm Chương 2: Nội dung và hình thức thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao thông điệp về an toàn thực phẩm trên truyền hình Việt Nam 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1.Lý luận chung về truyền thông và truyền hình 1.Khái niệm “Truyền thông” Truyền thông theo thuật ngữ tiếng Anh là “Communication”, đây được coi là một hoạt động trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người. Truyền thông thường để chỉ sự chia sẻ thông tin và giao lưu giữa người với người thông qua những hình thức nhất định. Về cụm từ “ Truyền thông” trên thế giới cũng có hơn 200 cách dịch nghĩa khác nhau.Hiện tại “Truyền thông” được hiểu theo nghĩa chung nhất là: Truyền thông là một hành vi truyền tải thông tin mang tính chất xã hội, là sự giao hoan giữa không gian của tập thể và không gian cá nhân;quá trình truyền tải thông tin, ý kiến và sự việc. Đơn giản hơn, truyền thông là quá trình do con người tạo ra, tiếp nhận và lưu trữ thông tin.
Quá trình truyền đạt, tiếp nhận, giao lưu và chia sẻ thông tin hai chiều giữa con người , tổ chức và xã hội; họ sử dụng các hình thức tuyên truyền để đưa thông tin và thực hiện hoạt động giao lưu qua lại. Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu mà các học giả đưa ra những định nghĩa về truyền thông khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm của PGS. Nguyễn Văn Dững như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm.chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội.10] Khái niệm này chỉ ra bản chất truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi thông tin một cách liên tục giữa đối tượng chủ thể truyền thông và đối tượng tiếp nhận. Hoạt động truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thông tin 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa hai đối tượng này.
Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó. Về mục đích, truyền thông hướng đến những sự hiểu biết chung nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng tiếp nhận và định hướng dư luận xã hội theo hướng phù hợp với nhu cầu của đối tượng chủ thể truyền thông và của xã hội. Nói cách khác, đối tượng chủ thể của hoạt động truyền thông khi chuyển thông điệp cho người tiếp nhận luôn mong muốn những thông tin mà mình cung cấp ảnh hưởng đến thái độ và cách xử sự của người tiếp nhận. Mô hình truyền thông và thông điệp truyền thông Một quá trình truyền thông bao gồm các yếu tố sau: Nguồn tin, thông điệp, kênh truyền và đối tượng tiếp nhận.
Rất nhiều học giả khi nghiên cứu về truyền thông đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông khác nhau. Tuy nhiên mô hình truyền thông của Harold Lasswell cùng với sự bổ sung của Claude Shannon vẫn được mọi người chấp nhận vì nó đơn giản và thông dụng. Các yếu tố của một hoạt động truyền thông được hai học giả thể hiện như sau: Hình 2. Mô hình truyền thông của Lasswell và Shannon [41, tr.18] Từ mô hình trên cho phép chúng ta nghiên cứu, đánh giá được vai trò, ý nghĩa của từng yếu tố, mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tham gia quá trình truyền thông.
Đó là điều kiện để không chỉ nhận thức mà còn tìm ra phương pháp, cách thức tác động hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo GS. Tạ Ngọc Tấn [43, tr.34], chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông truyền tải đến công chúng xã hội rộng rãi. Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng.
Nói cách khác, mục đích, quan điểm của chủ thể phát thông điệp bao giờ cũng ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông tin. Tính khuynh hướng trong nội dung thông tin được biểu hiện thông qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức, phương pháp phân tích đánh giá vấn đề và chính kiến phát biểu trực tiếp. Tuy nhiên, giới hạn của mô hình này là thể hiện hoạt động truyền thông như một quá trình tuyến tính, người tiếp nhận thông tin giống như một đối tác thụ động. Về sau, các nhà nghiên cứu thường quan niệm quá trình truyền thông theo mô hình truyền thông với dạng đường vòng tròn khép kín.
Cũng theo nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì quá trình truyền thông còn phải lưu ý đến các công việc cần thiết của người cung cấp, khởi xướng thông tin là mã hóa (encode) thông điệp bằng các tín hiệu của mình và người tiếp nhận muốn nhận thông điệp phải có quá trình giải mã (decode). Như vậy quá trình truyền thông sẽ được chia làm hai giai đoạn theo mô hình sau: Hình 2. Mô hình truyền thông [41, tr.20] Trong đó, Quá trình A-nguồn (source) có thể là một người, một tổ chức, một cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hóa (encode) là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó diễn đạt nội dung thông điệp. Thông điệp (message), là những thông tin thực sự được chuyển theo một mạch truyền (kênh) này hay kênh khác đến đối tượng.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình B: Giải mã (decode), là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến. Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp. Nơi nhận (destination), người nhận (receiver) là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích lũy của người tiếp nhận. Phản hồi (feedback), là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin gốc đến nơi tiếp nhận và ngược lại.
Nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện người tiếp nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin có những thông tin thích hợp với hiện tại. Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông, là công cụ mạnh mẽ cho phép nối hai đường truyền thông lại với nhau. Nó sẽ không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị vô hiệu hóa hoặc với sự chống lại của bộ phận tiếp nhận. Một hạn chế của truyền thông là có thể xảy ra hiện tượng không phản hồi.
Đây là một chu trình khép kín của quá trình truyền thông. Ở đây cần chú ý tới các khía cạnh sau: - Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội, xác định rõ những kinh nghiệm chung giữa người khởi xướng và người tiếp nhận. - Để truyền thông đạt hiệu quả, kinh nghiệm của người khởi xướng và người tiếp nhận có giá trị đặc biệt khi tiến hành. - Thông điệp trong truyền thông phải qua các bước mã hóa, truyền đi, tiếp nhận và giải mã.
Mỗi thông điệp chuyển từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường giảm độ chính xác và cường độ, nên phải tìm cách tăng sức mạnh cho thông điệp. - Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi.21] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Truyền thông (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông,. Thuật ngữ "truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latinh "Commune" với nghĩa là "chung” hay "cộng đồng”. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa những cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.5] Thông qua khái niệm cùng những mô hình truyền thông có thể thấy rằng việc đánh giá phương thức cũng như hiệu quả của một hoạt động truyền thông liên quan tới quá trình mã hóa thông điệp của nguồn phát và giải mã thông điệp của đối tượng tiếp nhận.
Để đạt được hiệu quả cuối cùng là một quy trình khép kín thì cần phải giải quyết được những yếu tố nhiễu tác động tới hoạt động truyền thông. Để làm căn cứ cho quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả hiểu truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, chia sẻ thông tin, thông điệp, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng. Nói cách khác, truyền thông là quá trình truyền tải và phổ biến thông tin xã hội đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian và thời gian. Quá trình này được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.
Khi phân tích về truyền thông, tác giả nhận thấy có ba đặc điểm chính sau: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình – có nghĩa là nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà diễn ra trong một khoảng thời gian lớn. Quá trình này mang tính liên tục vì nó không thể kết thúc ngay khi chuyển tải một nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn sau đó. Đó là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là hai bên cho và nhận. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, truyền thông phải dẫn tới sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.
Thứ ba, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong hành vi và nhận thức của công chúng.Khái niệm “Truyền hình” và đặc điểm của truyền hình Truyền hình (Television) là một từ ghép, trong tiếng La tinh “tele” có nghĩa là “xa”, còn “vision” nghĩa là “nhìn”. Sự kết hợp của hai từ này cho ra cụm từ “television” mang ý nghĩa: nhìn được từ xa.