Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH TỔNG HỢP HÌNH PHẠT 1. Khái niệm tổng hợp hình phạt Theo nguyên tắc của luật hình sự thì một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì phải chịu hình phạt. Theo Điều 45 Bộ luật hình sự quy định: "Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự" [29].
Đây là trường hợp người phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, người phạm tội phạm nhiều tội tương ứng với việc tuyên nhiều hình phạt. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử cho thấy, không phải người phạm nhiều tội nào cũng bị phát hiện và đem ra xét xử cùng một lúc. Có trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội bị phát hiện, được đưa ra xét xử cùng một lần và bị Tòa án tuyên nhiều hình phạt (trường hợp phạm nhiều tội).
Tuy nhiên, cũng có trường hợp bị cáo đang chấp hành một bản án lại bị đem ra xét xử về một tội mà người đó đã phạm trước hoặc sau khi có bản án đang chấp hành (trường hợp có nhiều bản án). Trong các trường hợp trên, người bị kết án sẽ phải chịu nhiều hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội. Hình phạt người bị kết án phải chấp hành có thể cùng loại nhưng cũng có thể khác loại. Có loại hình phạt có thể quy về cùng loại nhưng cũng có trường hợp bị cáo phải chấp hành đồng thời nhiều hình phạt.
Để đánh giá toàn diện về nhân thân người phạm tội cũng như thể hiện đầy đủ nhất thái độ của Nhà nước đối với họ, khi xét xử Tòa án phải tổng hợp tất cả các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung. Mặt khác, việc tổng hợp hình phạt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. 14 z Tóm lại, tổng hợp hình phạt là việc Tòa án xác định hình phạt chung cho người phạm tội bị kết án. Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 có bốn trường hợp khi xét xử Tòa án phải tổng hợp hình phạt.
Đó là: tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50), tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (Điều 51), tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội (Điều 75) và tổng hợp hình phạt trong các trường hợp liên quan đến án treo (khoản 5 Điều 60). Ý nghĩa của tổng hợp hình phạt Ý nghĩa thứ nhất, tổng hợp hình phạt đúng sẽ góp phần đạt được mục đích và nâng cao hiệu quả của hình phạt. Có thể nói, hiệu quả của hình phạt là mức độ đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người bị kết án, hiệu quả hình phạt càng cao thì kết quả đạt được trong thực tế càng gần với mục đích của hình phạt. Nếu hình phạt được tuyên không đúng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì người phạm tội không thấy được tính đúng đắn của bản án vì vậy không tích cực cải tạo để trở thành công dân tốt cũng như không tạo được niềm tin trong nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật.
Do hình phạt chung được tuyên trên cơ sở tổng hợp hình phạt của từng tội và trong giới hạn luật cho phép đối với từng loại hình phạt nên nó đánh giá đầy đủ và toàn diện nhất của Nhà nước đối với tất cả các tội mà bị cáo đã thực hiện, tương xứng với toàn bộ các tội mà bị cáo đã phạm. Nếu hình phạt chung được tổng hợp không đúng sẽ làm mất tác dụng của hoạt động quyết định hình phạt đối với từng tội và sẽ dẫn đến mục đích của hình phạt không đạt được. Do vậy, tổng hợp hình phạt chính xác có vai trò rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt. Ý nghĩa thứ hai, tổng hợp hình phạt đúng là góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Để tổng hợp hình phạt đúng Tòa án trước tiên phải quyết định hình phạt đúng. Để quyết định hình phạt đúng Tòa 15 z án phải nhận thức đúng và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyết định định hình phạt cũng như các quy định có liên quan. Mặt khác, hình phạt tổng hợp có tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội thì mới có tính thuyết phục, người bị kết án nhận thấy tính chất sai trái của hành vi cũng như sự cần thiết của bản án đã tuyên, từ đó họ sẽ tự giác chấp hành hình phạt. Bên cạnh đó, một hình phạt tổng hợp thỏa đáng sẽ có tính chất phòng ngừa chung để họ tuân thủ pháp luật cũng như nâng cao ý thức pháp luật, khuyến khích quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Ý nghĩa thứ ba, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án thực thi nhiệm vụ, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong thực tế, nhiều khi người bị kết án phải chịu nhiều hình phạt nhưng các hình phạt lại không được tổng hợp, do vậy có nhiều bản án có hiệu lực nhưng phần hình phạt lại chưa được chấp hành. Điều này dễ dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Ý nghĩa thứ tư, việc tổng hợp hình phạt đúng còn là sự đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự nói riêng và công bằng xã hội nói chung.
Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự là một người thực hiện nhiều tội phạm thì phải chịu nhiều hình phạt. Công bằng trong xã hội là người phạm tội phải trừng trị, người phạm nhiều tội phải bị trừng trị nhiều hơn người phạm một tội. CÁC NGUYÊN TẮC TỔNG HỢP HÌNH PHẠT Theo nghĩa chung thì nguyên tắc được hiểu là "điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm" [74, tr. Mỗi ngành khoa học, mỗi lĩnh vực cụ thể đề cập tới vấn đề nguyên tắc theo góc độ riêng, đặc thù cho ngành khoa học hay lĩnh vực hoạt động đó.
Trong khoa học pháp lý, nguyên tắc trong luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình 16 z xây dựng cũng như áp dụng các văn bản pháp luật hình sự. Tổng hợp hình phạt là một chế định trong luật hình sự nên cũng chịu sự chỉ đạo của các nguyên tắc chung của luật hình sự. Do vậy, các nguyên tắc tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án tổng hợp hình phạt chính xác đối với người phạm tội. Thứ nhất, mối quan hệ giữa các nguyên tắc tổng hợp hình phạt với các nguyên tắc của luật hình sự là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Các nguyên tắc của Luật hình sự là các nguyên tắc chung, đặc trưng cho tất cả các chế định của Luật hình sự, còn nguyên tắc tổng hợp hình phạt là nguyên tắc riêng đặc trưng cho chế định tổng hợp hình phạt. Nếu các nguyên tắc chung của Luật hình sự là tư tưởng chỉ đạo cho toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự thì nguyên tắc tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo cho một giai đoạn hoạt động của Tòa án trong quá trình áp dụng quy định tổng hợp hình phạt. Do chúng đều tồn tại khách quan và có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau nên khi áp dụng chế định này phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của luật hình sự và những nguyên tắc đặc thù để việc áp dụng quy định tổng hợp hình phạt chính xác và đạt hiệu quả cao. Thứ hai, sự khác nhau giữa các nguyên tắc tổng hợp hình phạt với các nguyên tắc của luật hình sự chủ yếu là mức độ cụ thể hóa và tính đặc trưng.
Cụ thể là các nguyên tắc tổng hợp hình phạt có tính cụ thể hóa cao hơn (chỉ định hướng cho việc tổng hợp hình phạt) và chỉ đặc trưng cho một chế định của luật hình sự - Chế định tổng hợp hình phạt. Còn các nguyên tắc của luật hình sự định hướng chung cho việc xây dựng và áp dụng luật hình sự và đặc trưng cho mọi chế định của luật hình sự. Thứ ba, các nguyên tắc tổng hợp hình phạt là một nội dung trong chính sách hình sự của nước ta. Do đó, nội dung của các nguyên tắc tổng hợp hình phạt phải phù hợp với chính sách hình sự nói riêng và chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung.
Chính sách về tổng hợp hình phạt cũng chỉ là 17 z một loại của chính sách hình sự, muốn thực hiện có hiệu quả thì nó phải được thực hiện một cách đồng bộ trong toàn bộ chính sách chung của Đảng và Nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở nội dung các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tổng hợp hình phạt, tác giả nhận thấy có các nguyên tắc tổng hợp hình phạt sau: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế xã hội chủ nghĩa là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và mọi công dân trong hoạt động của mình. Tư tưởng cơ bản bao trùm của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là khi tổng hợp hình phạt, Tòa án phải triệt để tuân thủ các quy định của luật hình sự.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và có vai trò quan trọng hàng đầu, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thì cũng có nghĩa là vi phạm các nguyên tắc khác ở những mức độ khác nhau.