MỞ ĐẦU Omacetaxine mepesuccinate (đƣợc biết đến với tên Homoharringtonine, tên thƣơng mại là Synribo) là một alkaloidss trong cây Cephalotaxus harringtonia đã và đang đƣợc chỉ định trong việc điều trị bệnh ung thƣ bạch cầu mãn tính (chronic myelogenous leukemia - CML). Công dụng đặc trị bệnh CML của Homoharringtonine đã đƣợc Cục Thực phẩm và Dƣợc phẩm Mỹ (US FDA) cấp bằng chứng nhận vào tháng 10 năm 2012. Tuy nhiên trong tự nhiên thành phần của Homoharringtonine là rất nhỏ, việc chiết tách HHT sẽ không những tốn kém mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến hệ sinh thái. Do đó, việc tổng hợp HHT từ các hợp chất có sẵn là rất cần thiết.
Điều này đã thôi thúc các nhà khoa học đề xuất các phƣơng án tổng hợp alkaloids này. Từ năm 2004 đến nay, đã có rất nhiều các phƣơng án đƣợc đề xuất đi từ nhiều hợp chất ban đầu khác nhau. Đề góp phần vào việc điều chế Homoharringtonine – một hợp chất quý trong lĩnh vực dƣợc phẩm, trong nghiên cứu này tôi đề xuất giới thiệt một phƣơng pháp tổng hợp mạch nhánh ester của HHT sử dụng phản ứng đóng vòng bằng metathesis với xúc tác Grubbs II. Quy trình tổng hợp gồm 8 bƣớc, bắt đầu với (D)-Malic acid.
Các bƣớc tổng hợp quan trọng trong quy trình gồm có quá trình tổng hợp bảo toàn trung tâm bất đối của Seebach, phản ứng đóng vòng olefin metathesis với xúc tác Grubbs 2 và phản ứng ester hoá theo phƣơng pháp của Yamaguchi. Quy trình hứa hẹn một phƣơng pháp mới để điều chế nhánh ester từ đó có thể tiến tới bán tổng hợp HHT bằng phản ứng ester hóa với Cephalotaxine. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 Chƣơng 1- TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung 1.
Giới thiệu về họ Cephalotaxus (Cephalotaxaceae) Cephalotaxus là họ cây nhỏ thuộc họ tùng bách. Chi Cephalotaxus đƣợc coi là đại diện duy nhất của họ tùng bách có từ sáu đến mƣời hai loài. Đặc điểm chung của các cây họ này là có lá kép có hình dạng tƣơng tự nhƣ lá tùng, hạt cây giống hạt ô liu với lớp vỏ tƣơi[1]. Trên thực tế, việc phân loại và xác định các cây thuộc họ này gặp nhiều khó khăn và còn nhiều tranh cãi vì các đặc điểm hình thái của cây phụ thuộc vào tuổi và môi trƣờng.
Chính vì vậy, số lƣợng loài của Cephalotaxus khác nhau tùy thuộc vào từng báo cáo. Tuy nhiên, một cách tổng quát ta có thể chia họ này làm mƣời một loài sau: STT Tên loài STT Tên loài 1 Cephalotaxus fortunei 7 Cephalotaxus latifolia 2 Cephalotaxus griffithii 8 Cephalotaxus mannii 3 Cephalotaxus hainanensis 9 Cephalotaxus oliveri 4 Cephalotaxus harringtonia 10 Cephalotaxus sinensis 5 Cephalotaxus koreana 11 Cephalotaxus wilsoniana 6 Cephalotaxus lanceolata Bảng 1. Danh sách các loài thuộc họ Cephalotaxus. Một đại diện của họ Cephalotaxus là Cephalotaxus harringtonia (còn đƣợc gọi là C.
drupacea, tên tiếng Nhật là: Inukaya), đƣợc thu hoạch ở Nhật và đƣợc mang đến Châu Âu vào năm 1829 bởi nhà tự nhiên học Von Siebold, tác giả của Flora Japonica[2]. Chi này cũng phân bố ở Nam và Đông Á: Trung Quốc, bao gồm cả Đài Loan và đảo Hải Nam, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam. Đặc biệt, ở Trung Quốc, một vài loài đang có nguy cơ biến mất do sự đô 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 thị hóa cũng nhƣ quá trình phát triển của hạt cây rất dài (khoảng hai năm) và tỷ lệ phục hồi thấp của loài trong tự nhiên. Nhiều hóa thạch Cephalotaxus cũng đƣợc tìm thấy ở Châu Âu, Greenland và Bắc Mỹ và đƣợc xác định là từ kỷ Miocene, Pliocene và Jurassic.
Cephalotaxus harringtonia và Cephalotaxus fortunei Trong những thập kỷ trƣớc đây, các cây họ Cephalotaxus đƣợc coi là nguồn cung cấp tự nhiên các alkaloidss (các cephalotaxine ester) và terpenoids (abietanes, troponoids), các chất này thể hiện dƣợc tính và đƣợc sử dụng cho mục đích y học đặc biệt là trong việc chống ung thƣ. Một ví dụ điển hình là Homoharringtonine: hợp chất có thể đƣợc tìm thấy trong Cephalotaxus harringtonia rất hoạt động với các tế bào ung thƣ máu và hiện nay đã đƣợc bán trên thị trƣờng nhƣ một sản phẩm thƣơng mại. Những báo cáo ban đầu về các alkaloidss có trong họ Cephalotaxus Từ năm 1950 đã có những báo cáo khẳng định sự tổn tại của các alkaloidss trong các loài của họ Cephalotaxus, nhƣng vào thời điểm đó chƣa có các nghiên cứu hóa học cụ thể về vấn đề này. Phải đến tận năm 1963, một vài alkaloidss chính từ C.
fortunei mới đƣợc phân tách (khoảng 50% từ hỗn hợp alkaloidss ban đầu) và xác định một phần bởi Paudler và 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 cộng sự. Sau này, Powell đã phân lập và xác định đƣợc công thức của Cephalotaxine (1) và các alkaloidss liên quan từ C. Rất nhiều các ester của cephalotaxine đã đƣợc phân lập nhƣ harringtonine (2), homoharringtonine (3) và iso-homoharringtonine (4)[3] (đã thể hiện hoạt tính ức chế các tế bào ung thƣ máu P388 ở chuột với 1mg/kg) và deoxyharringtonine (5)[4]. Hainanensine (6) là một dẫn xuất chuyển vị của cephalotaxine đƣợc phân lập từ C.
Các hợp chất thuộc dãy homoerythina cũng đƣợc khám phá, tuy với một lƣợng rất nhỏ đóng góp thêm những hiểu biết về nguồn gốc gen sinh học của các hợp chất này. Cephalotaxine và các dẫn xuất ester tìm thấy trong các cây Cephalotaxus Vì những hoạt tính chống ung thƣ máu, từ những năm 1970, Viện ung thƣ quốc gia và Bộ nông nghiệp của Hoa Kỳ đã thực hiện một dự án đầy tham vọng: nghiên cứu các thành phần của Cephalotaxus[5]. Từ thành công của dự án này, đã có rất nhiều các alkaloidss của Cephalotaxus đƣợc xác định là mục tiêu hứa hẹn cho 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 việc nghiên cứu và điều trị ung thƣ máu, điều này cũng ảnh hƣởng rất lớn đến hƣớng đi của các nhà hóa học trong lĩnh vực tổng hợp thuốc. Trong đó, đặc biệt phải nhắc đến Homoharringtonine (3) đây là sản phẩm đã đƣợc thƣơng mại hóa với hoạt tính mạnh đối với các tế bào ung thƣ máu.
Một điểm đáng chú ý là ảnh hƣởng rất lớn của mạch ester đến hoạt tính sinh học của các alkaloidss kể trên. Trong khi Homoharringtonine có hoạt tính rất cao đối với các tế bào ung thƣ máu, Cephalotaxine (1) thể hiện hoạt tính rất yếu với các tế bào cùng loại. Nhƣng trong tự nhiên hàm lƣợng của (3) rất nhỏ trong khi (1) lại chiếm phần lớn trong hỗn hợp alkaloidss. Điều này đặt ra định hƣớng cho các nhà tổng hợp về việc tổng hợp (3) và các ester cephatoxine phục vụ cho mục đích y học.
Cấu trúc và hoạt tính sinh học của các hợp chất có trong cây họ Cephalotaxus 1. Các alkaloidss có trong các cây họ Cephalotaxus Sau khi tìm ra Cephalotaxine (1) vào năm 1963, dãy alkaloidss thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm, đặc biệt là các ester của cephalotaxine nhƣ harringtonine (2), homoharringtonine (3), isoharringtonine (4) và deoxy harringtonine (5) đều thể hiện đƣợc hoạt tính chống ung thƣ đặc biệt là với hệ thống bạch cầu của chuột [6]. Thực vậy, (3) đã đƣợc bán nhƣ một thành phẩm độc lập hoặc dung kết hợp với các thành phần khác, và đƣợc dung trong việc điều trị các bệnh về máu nhƣ ung thƣ máu mãn tính và cấp tính, nhƣng 3 không có tác dụng với các khối u. Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm kiếm các alkaloidss của Cephalotaxus với cấu trúc cũng nhƣ hoạt tính sinh học mới.
Trong mƣời lăm năm trở lại đây, ngƣời ta đã phân lập đƣợc ester của các hợp chất nhƣ drupacine (7) và 11- hydroxycephalotaxine (8). 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 Hình 1. Các hợp chất phân lập đƣợc từ các cây họ Cephalotaxus (1) Bốn hợp chất alkaloidss mới đƣợc phân lập bởi Takano et la from C. Các hợp chất 12-15 thể hiện hoạt tính với tế bào ung thƣ máu P388 với giá trị IC50 của 13-15 lần lƣợt là 0.17µg mL-1, trong khi 12 thể hiện hoạt tính vƣợt trội (7.
Ba ester alkaloidss là neoharringtonine (13), homoneharringtonine (14) và (3’S)- hydroxyneoharringtonine (15), đã đƣợc tách từ lá và thân của cây C. drupacea bởi cùng một nhóm nghiên cứu [8] các alkaloids này đặc trƣng bởi sự có mặt của phenyl và benzyl trong mạch ester. Tất cả đều thể hiện hoạt tính chống ung thƣ với tế bào P388, đặc biệt là 13 với chỉ số IC50 12ng mL-1. Năm 2000, Kobayashi và các cộng sự đã phân lập đƣợc Cephalezomine A (16), cephalezomine B (17) và các cephalotaxine ester của cephalezomines C-F (18- 21) từ C.
nana 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 Hình 1. Các hợp chất phân lập đƣợc từ các cây họ Cephalotaxus (2) Hai năm sau đó, nhóm tác giả đã phân lập đƣợc thêm các cephalezomine nhƣ G và H: Hình 1. Cephalezomine G và H Cũng giống nhƣ homoharringtonine, mạch ester nhánh đóng một vai trò quan trọng quyết định hoạt tính sinh học của các hợp chất này. Các cephalezomines A-F (18- 21) có chỉ số IC50 trong khoảng từ 0.40µg mL-1 đối với tế bào ung thƣ biểu bì KB ở ngƣời.
Trong khi với cephalezomines G và H thì chỉ số IC50 > 30µg mL-1 với cùng một loại tế bào, tuy nhiên nếu gắn thêm gốc đƣờng β-D- glucopyranose vào một nhóm hydroxy thì chỉ số này giảm xuống còn 5. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tổng hợp bất đối mạch ester của Homoharringtonine 2014 Nordeoxyharringtonine (19), homodeoxyharringtonine (20) và bishomodeoxyharringtonine (29) là những mạch nhánh khác nhau ở chiều dài mạch và mức độ oxi hóa đƣợc báo cáo bởi Tanako et al. Những hợp chất này có hoạt tính tƣơng đối mạnh với tế bào ung thƣ máu P-388 với chỉ số IC50 lần lƣợt là 27, 56 và 24 ng mL-1 Hình 1. Cephalotaxidine và các dẫn xuất dime dị hợp Dime của alkaloid đầu tiên, cephalotaxidine (24) đƣợc phân lập từ C.
drupacea bởi Takano et al. Đây là dime đồng hợp của hai phân tử homoharringtonine (3) với giá trị IC50 khoảng 1.8 µg mL-1 với tế bào ung thƣ P-388. Những năm sau đó, Kobayashi và cộng sự đã phân lập đƣợc năm dime khác từ C. nana, đây là các dime dị hợp, bis-cephalotaxidine A- E (25-29).
Mặc dù các monome cấu tạo lên các dime này có hoạt tính sinh học cao nhƣng bản thân các dime lại có hoạt tính tƣơng đối thấp với tế bào ung thƣ L1210 ở chuột, giá trị IC50 khoảng 1. Vào năm 2001, Jossang và các cộng sự đã xác định đƣợc các cephalotaxine N- oxides từ hạt của loại C. fortunei là cephalotaxin α –N- oxide (30), cephalotaxin β – N- oxide (31) và 11 –β- hydroxycephalotaxin β –N- oxide (32).