Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUY ĐỊNH VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản là một loại tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất phổ biến trong xã hội. Để cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này có hiệu quả cần có nhận thức chính xác bản chất của loại tội này, làm sáng tỏ khái niệm, dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm.
Đã tồn tại hai khuynh hướng khi qui định về về tội trộm cắp tài sản trong văn bản pháp luật hình sự. Khuynh hướng thứ nhất không đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản mà mặc nhiên thừa nhận nó. Khuynh hướng thứ hai có qui phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản. Hai khuynh hướng trên thể hiện rõ trong bộ luật Phong kiến Việt Nam trước đây.
Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long tuy có qui định nhiều về tội trộm cắp cụ thể nhưng không có qui phạm định nghĩa về tội này. Ngược lại, Hình Luật Canh Cải (HLCC) và Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) lại có qui định về khái niệm tội trộm cắp tài sản. Ví dụ Điều 381 HLCC qui định: "Người nào dùng sự gian mà lấy đồ (vật) của người ta, thì phạm tội ăn trộm" [22, tr. Khái niệm này đã xác định được ba đặc điểm của loại tội trộm cắp tài sản đó là: Hành vi phạm tội là hành vi lấy tài sản; việc lấy tài sản là trái pháp luật; đối tượng của hành vi là tài sản của người khác.
Tuy nhiên, đây là một khái niệm không đầy đủ, chưa thể hiện lỗi của người phạm tội, tính chất hành vi lấy tài sản và đặc biệt là không thể hiện rõ ràng sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thuật ngữ "dùng sự gian" dễ làm người đọc hiểu lầm về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Các văn bản pháp luật hình sự của nhà 7 z nước ta sau Cách mạng Tháng 8 lại thể hiện khuynh hướng thứ nhất, không có qui phạm định nghĩa về tội trộm cắp tài sản, chỉ qui định tội danh một cách đơn giản. Cách qui định này thể hiện rõ trong các Điều 132, 155 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 và Điều 138 BLHS năm 1999.
Trên thế giới qui định về tội trộm cắp tài sản cũng có hai khuynh hướng trên. Các nước như Liên bang Nga, CHLB Đức, Nhật Bản, Malaixia, CHDCND Lào. thuộc khuynh hướng đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản. Rất ít nước như CHND Trung Hoa không có qui định về khái niệm tội trộm cắp tài sản.
Điều 158 BLHS Liên bang Nga năm 1986 qui đinh: "Trộm cắp là (hành vi) bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác" [5, tr. Dựa trên cơ sở khái niệm này có thể xác định dấu hiệu cơ bản của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản; sự chiếm đoạt tài sản được thể hiện một cách bí mật; tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản của người khác. Điều 142 BLHS của CHLB Đức được ban hành năm 1871 và được sửa đổi bổ sung nhiều lần phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội đưa ra khái niệm của tội trộm cắp tài sản: Người nào lấy đi vật là động sản của người khác, với mục đích chiếm đoạt vật này, thì bị phạt tù đến năm năm hoặc phạt tiền". Khái niệm này cho thấy đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là động sản, bất động sản không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.
BLHS của Malaixia đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản tại Điều 378 như sau: "Người nào nhằm mục đích chiếm đoạt động sản của người khác mà lấy đi tài sản đó thì bị xử là phạm tội trộm cắp [5, tr. Điều 253 BLHS Nhật Bản ban hành năm 1907 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần cũng qui định: "Người nào lấy cắp tài sản của người khác thì bị phạt tù đến 10 năm". Như vậy, bộ luật chỉ xác định đối tượng tác động của tội 8 z trộm cắp tài sản là tài sản của người khác, không mô tả thêm bất kỳ dấu hiệu pháp lý nào khác của tội phạm. Bộ luật hình sự CHND Trung Hoa không có qui phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản, chỉ nêu tên tội danh, Điều 264 BLHS CHND Trung Hoa qui định: "Người nào trộm cắp tài sản, tiền bạc công hoặc tư, thì bị phạt đến ba năm tù".
Từ những dẫn chứng trên ta thấy rõ một số nét tương đồng cơ bản trong pháp luật hình sự ở một số nước. Sự khác biệt xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội, truyền thống lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm của từng nước. Giáo trình trường Đại học luật Hà Nội đưa ra định nghĩa về tội trộm cắp tài sản: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” [67, tr.383]; Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, Tập 2- Đinh Văn Quế “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [44, tr. Khái niệm đã miêu tả dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm, hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt, việc chiếm đoạt được thực hiện lén lút, tài sản chiếm đoạt là tài sản đang thuộc sở hữu của chủ sở hữu.
Tuy nhiên, khái niệm trên không thể hiện rõ một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi, dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm. Để đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản, trước hết cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm mà theo TSKH.PGS Lê Cảm là phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm của nó là: a) bình diện khách quan- tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý- tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan- tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [11, tr. Tổng kết các quan điểm trên ta có thể đưa ra một khái niệm về tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 9 z thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Khái niệm về tội trộm cắp tài sản nói trên đã xác định rõ hành vi phạm tội của tội trộm cắp tài sản là hành vi lấy tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, hình thức chiếm đoạt của người phạm tội là lén lút- đây là dấu hiệu để phân biệt tội trộm cắp tài sản với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác, các tội xâm phạm sở hữu khác có hành vi chiếm đoạt, nhưng sự chiếm đoạt xảy ra công khai như tội cướp tài sản; tội cưỡng đoạt tài sản.
hoặc chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khái niệm trên còn thể hiện rõ người phạm tội phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phải có năng lực trách nhiệm hình sự. Những hành vi lấy tài sản của người khác khi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc ở tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì không phải là tội phạm. Khái niệm này còn chỉ rõ người phạm tội trộm cắp tài sản phải có lỗi cố ý khi thực hiện tội phạm, cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu của mình khác với các tội xâm phạm quyền sở hữu với lỗi vô ý.
Những đặc điểm của tội trộm cắp tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu Về mặt lý luận, tội trộm cắp tài sản là một loại tội phạm có dấu hiệu hành vi khách quan khá đơn giản: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn hành vi trộm cắp tài sản mà cụ thể ở đây là hành vi "lén lút" được diễn ra rất đa dạng, biến hóa gây nhiều tranh cãi trong vấn đề định tội danh giữa các nhà áp dụng luật. Do đó cần phải phân tích và làm rõ những dấu hiệu nổi bật của tội Trộm cắp tài sản để khi nhìn vào chúng ta có thể biết ngay đó là tội trộm cắp tài sản. Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không hề biết mình sẽ bị mất tài sản, chỉ sau đó họ mới biết mình bị mất tài sản.
10 z Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng - NXB Văn hóa thông tin - 2004, giải nghĩa từ “lén lút” là hành vi: cố giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra do có ý gian. Trong tội trộm cắp tài sản, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản phải có đầy đủ những dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu đó sẽ không thể hiện được bản chất của sự "lén lút". Nói cách khác, "lén lút" là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ. Tính chất lén lút của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội dấu diếm hành vi phạm tội của mình.
Tuy nhiên lén lút không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản bởi trong nhiều tội phạm khác cũng có dấu hiệu lén lút nhưng là để thực hiện một mục đích khác như: Lẻn vào nhà thực hiện hành vi hiếp dâm; lẻn vào nhà giết người.vì vậy lén lút mà không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản thì không phải trộm cắp tài sản. Có thể nói trộm cắp tài sản là chiếm đoạt tài sản bằng hành vi lén lút.