Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN HÀNG CẤM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. KHÁI NIỆM HÀNG CẤM; TỘI SẢN XUẤT, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN HÀNG CẤM 1. Khái niệm hàng cấm Hàng cấm là một loại hàng hóa nhưng do Nhà nước thống nhất quản lý, cấm các cá nhân tự do sản xuất, buôn bán kinh doanh. Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa và sản xuất, buôn bán hàng hóa gắn liền với hoạt động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu.
Việc sản xuất hàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh doanh. Qua các thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội lượng hàng hóa sản xuất ngày một nhiều và đa dạng. Một số được tự do buôn bán kinh doanh để phục vụ nhu cầu hàng ngày của con người nhưng một số mặt hàng do Nhà nước thống nhất quản lý cấm các cá nhân, tổ chức buôn bán tự do. Tuy nhiên, những hàng hóa thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý vẫn bị các cá nhân, tổ chức lén lút sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán do đó sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Nhưng khái niệm hàng cấm là gì vẫn chưa được quy định trong BLHS hay các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, một vấn đề đặt ra cho các cơ quan chức năng là phải hiểu rõ thế nào là hàng cấm và các loại hàng cấm để từ đó đưa ra những 15 quyết định, bản án phù hợp "đúng người, đúng tội" nhằm loại trừ các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ra khỏi đời sống xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của mỗi người dân. Tuy nhiên, khái niệm hàng cấm là gì chưa được BLHS và các văn bản pháp luật liên quan quy định cụ thể, rõ ràng. Để hiểu rõ về hàng cấm ngoài việc xem xét giá trị của hàng hóa nói chung, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu các văn bản quy định về hàng cấm và các dấu hiệu của hàng cấm.
Tuy nhiên, cho đến nay các quy định pháp lý về hàng cấm còn nhiều bất cập hoặc chưa chỉ ra rõ ràng khái niệm hàng cấm và quy định cụ thể các dấu hiệu trùng với các đối tượng hàng cấm đã được điều chỉnh tại các điều luật khác với Điều 155 BLHS. Điều này đã gây những khó khăn nhất định cho việc nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức cho đúng về hàng cấm dưới góc độ pháp lý. Một số từ điển hoặc các văn bản có liên quan có đề cập đến hàng cấm là "hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán, kinh doanh" [67]; nhưng khái niệm này không nêu lên được đầy đủ hàng cấm gồm những loại nào dẫn đến nhiều khó khăn trong việc nhận thức về chúng. Chúng ta thấy khái niệm hàng cấm cần phải phản ánh được một số nội dung cơ bản sau đây: Hàng cấm là những sản phẩm, hàng hóa do Nhà nước thống nhất quản lý; Chỉ ra được những dấu hiệu cơ bản của hàng cấm để phân biệt rõ với nhưng đối tượng đã được điều chỉnh bởi các điều luật khác của BLHS; Chỉ ra các tác hại của hàng cấm là gây thiệt hại về kinh tế, có khả năng gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người.
Để ngăn chặn, phòng ngừa và đấu tranh chống hàng cấm Nhà nước ta cũng như một số nhà khoa học đã đưa ra một số quan niệm về hàng cấm trong các từ điển hoặc các văn bản có liên quan, chứ chưa quy định cụ thể, đầy đủ nội hàm khái niệm hàng cấm. 16 Trước đây chưa có văn bản nào nêu ra khái niệm hàng cấm và các loại hàng cấm, các nghị định trong thời gian gần đây quy định về danh mục và các loại hàng hóa cấm lưu thông và kinh doanh. Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03/03/1999 của Chính phủ quy định về danh mục các mặt hàng cấm lưu thông. Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định về 18 loại hàng hóa cấm kinh doanh.
Nhưng hai Nghị định trên không có quy định cũng như giải thích từ ngữ về hàng cấm. Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, có quy định: "Hàng cấm gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng ở Việt Nam" [14]. Khái niệm trên cũng chỉ quy định hàng cấm là hàng hóa gồm những loại cấm kinh doanh, cấm lưu hành, sử dụng ở Việt Nam và hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng ở Việt Nam. Quy định này còn mang tính chất chung chung, chưa bao quát, chưa thể hiện được đầy đủ nội hàm khái niệm hàng cấm.
Từ những phân tích trên và thực tiễn áp dụng pháp luật chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về hàng cấm như sau: Hàng cấm là những hàng hóa Nhà nước thống nhất quản lý, không được phép sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán. Khái niệm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước ta quy định tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013: "mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" [43], 17 ngay từ khi xây dựng đất nước Nhà nước ta đã chỉ rõ mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Quyền cơ bản của công dân về mặt kinh tế được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật, tuy nhiên nếu bất kì cá nhân, tổ chức nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trong thực tiễn hiện nay bên cạnh các hoạt động kinh doanh hợp pháp, các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp vẫn diễn ra và ngày càng có chiều hướng gia tăng, do sức ép của nền kinh tế thị trường cũng như sự yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nước.
Hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là một trong những hoạt động kinh doanh bất hợp pháp, hoạt động này cùng với tình hình tội phạm nói chung có chiều hướng ngày càng phát triển và tinh vi, khiến cho mất cân đối trên thị trường. Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì nó xâm hại đến chế độ thống nhất quản lý về hàng cấm của Nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Hơn nữa vì lợi nhuận mang lại từ việc sản xuất, buôn bán hàng cấm rất lớn mà nhiều người, nhiều cá nhân, tổ chức hám lợi đã bất chấp những quy định của pháp luật, thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, vi phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, xâm hại đến nền kinh tế quốc dân. Những hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội không chỉ vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính mà còn phải bị coi là tội phạm và phải xử lý, áp dụng chế tài hình sự.
Do đó cần hiểu rõ như thế nào là "tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm" để xử lý, áp dụng chế tài thỏa đáng nhằm đạt được mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm. Từ trước đến nay các văn bản có liên quan hay các Từ điển tiếng Việt có đề cập đến khái niệm hoặc giải thích các cụm từ: sản xuất hàng cấm, vận chuyển hàng cấm, tàng trữ hàng cấm và buôn bán hàng cấm, từ đó có thể hiểu: 18 Sản xuất hàng cấm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, sang chia, sang chiết, nạp, đóng gói và các hoạt động khác làm ra hàng cấm. Tàng trữ hàng cấm là cất giữ trái phép hàng cấm trong người, trong nhà hoặc ở một nơi nào đó không kể thời gian bao lâu, không vì mục đích sản xuất hay buôn bán. Vận chuyển hàng cấm là việc đưa hàng cấm từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng các hình thức khác nhau mà không có giấy phép hợp lệ nhưng không có mục đích buôn bán, tàng trữ.
Buôn bán hàng cấm là việc mua đi, bán lại hàng cấm nhằm mục đích kiếm lời. Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã quy định tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và được quy định tại Điều 155 Chương XVI BLHS như sau: 1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tổ chức; 19 b) Lợi dụng, chức vụ quyền hạn; c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; d) Có tính chất chuyên nghiệp; đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn; e) Tái phạm nguy hiểm.