Chương 1: Một số vấn đề chung về tội nhận hối lộ trong Luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Các quy định về tội nhận hối lộ trong Bộ Luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Nhu cầu và một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về tội nhận hối lộ trong Bộ Luật hình sự hiện hành. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm của tội nhận hối lộ 1. Khái niệm chung tội phạm về chức vụ Tội phạm về chức vụ là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, nó mang tính lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Tội phạm về chức vụ xuất hiện khi một người được giao một quyền lực nhất định và người đó đã sử dụng quyền lực được giao để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân.
Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật hình sự các tội về tham nhũng cho thấy từ khi thành lập nước cho đến khi Bộ luật hình sự 1985 chính thức thông qua, thì khái niệm tội phạm về chức vụ chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hình sự. Nghĩa là trong các văn bản pháp luật hình sự được ban hành trước đây chưa có một quy phạm nào quy định khái niệm tội phạm về chức vụ. Nhưng các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cụ thể để làm những việc sai trái đều bị xử lý bằng các biện pháp kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Nhà nước hay bằng các biện pháp hành chính. Trong giai đoạn hiện nay quá trình phát triển xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu phải tội phạm hóa một hành vi vi phạm pháp luật của người có chức vụ quyền hạn, nhu cầu pháp điểm hóa pháp luật hình sự và điều đó đặt ra yêu cầu khái quát hóa từng loại tội phạm căn cứ vào một cố dấu hiệu nhất định.
Trên cơ sở đó, khái niệm tội phạm về chức vụ được hình thành từng bước và ngày càng hoàn chỉnh. Bộ luật hình sự 1999 quy định một cách khái quát về khái niệm tội phạm về chức vụ ở Điều 277 BLHS quy định: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện 9 trong khi thực hiện công vụ”. Đây là khái niệm khái quát được các dấu hiệu chung nhất đặc trưng cho một nhóm tội phạm cụ thể, căn cứ vào các dấu hiệu khách thể, chủ thể và các yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Khái niệm này đã khái quát được các đặc điểm pháp lý chung của các tội phạm về chức vụ được quy định trong Chương XXI.
Việc quy định tội phạm về chức vụ là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan trong đấu tranh phòng chống các tội phạm về chức vụ. So sánh giữa điều 277 BLHS năm 1999 với điều 352 BLHS năm 2015 chúng ta thấy, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung một số câu từ để đảm bảo tính chi tiết, cụ thể và chặt chẽ hơn đó là: bổ sung cụm từ “nhiệm vụ” vào cả khoản 1 và bổ sung, thay thế cụm từ “công vụ” thành “nhiệm vụ” khoản 2 điều 352 BLHS năm 2015. Nhằm làm rõ hơn khái niệm “công vụ” trong nền hành chính nhà nước với người được giao thực hiện một “nhiệm vụ” nào đó. Công vụ là một phạm vi rộng với nhiều yếu tố hợp thành như thể chế công vụ, đội ngũ công chức, các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước.
Nói đến công vụ là nói đến hoạt động của nhà nước, là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội. Còn nhiệm vụ chúng ta hiểu là các hoạt động khác khi được nhà nước uỷ quyền, đảm nhận và giao cho thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật. Việc quy định tội phạm về chức vụ là rất đúng đắn và cần thiết, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan trong đấu tranh phòng chống các tội phạm về chức vụ, nó đánh dấu một bước phát triển mới của luật hình sự và khoa học luật hình sự nước ta, có ý nghĩa to lớn về mặt phương pháp luận, là cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề khác (khách thể, chủ thể, các dấu hiệu khách quan, chủ quan) của tội phạm về chức vụ, những dấu hiệu đặc trưng cho loại tội phạm này. Đồng thời khái niệm này đã góp phần giải quyết được những vấn đề trong luật, giúp cho các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự một cách đúng đắn, có cơ sở tránh sự nhằm lẫn tội phạm về chức vụ với các hành vi vi phạm pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn.
Như vậy, việc 10 quy định khái niệm tội phạm về chức vụ ở Điều 277 Bộ luật hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Chương XXI gồm 15 Điều, hai mục: Mục A – Các tội phạm về tham nhũng và Mục B – Các tội phạm khác về chức vụ. Trong đó, Mục A gồm 7 Điều luật quy định về các tội trong đó có Điều 279 quy định về tội nhận hối lộ. Như vậy, tội nhận hối lộ là tội phạm về chức vụ nhưng lại được xếp trong một nhóm tội phạm cụ thể hơn: các tội phạm về tham nhũng.
Nói đến tham nhũng, tuy được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng pháp luật nước ta cũng như pháp luật nhiều nước trên thế giới đều có quan niệm tương đối thống nhất về vấn đề này: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” – đây cũng là khái niệm tham nhũng được đưa ra tại Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005. Khái niệm về tội nhận hối lộ Hiện nay, tham nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng, được xác định là căn bệnh trầm kha, mang tính phổ biến nhất của quyền lực. Nó xuất hiện trong tất cả cơ cấu của tổ chức quyền lực, đó là, lợi dụng công quyền nhằm mục đích vụ lợi cá nhân hay cho những một nhóm lợi ích cục bộ. Vì tội nhận hối lộ là một trong các tội phạm về tham nhũng, do đó việc phân tích sâu hơn về tội phạm tham nhũng là việc làm cần thiết.
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, xuất hiện cùng với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của Nhà nước, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan chức được giao cho các quyền về chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội. Ngày nay tham nhũng không còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề của toàn cầu. Các nước phát triển, đang phát triển hay kém phát triển, không có một nước nào “miễn dịch” được tham nhũng, nó chỉ khác nhau về tính chất, mức độ phạm tội mà thôi. Tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm tham gia vào việc tìm ra giải pháp phòng, chống tham nhũng có hiểu nhất.
Tuy nhiên, tham nhũng dường như xâm hại với tỷ lệ cao hơn ở các nước đang phát triển, những nền kinh tế đang chuyển đổi. Tham nhũng ngăn cản nhiều nước vượt qua những thách thức nghiêm 11 trọng nhất của phát triển, cản trở đầu tư trong nước và nước ngoài, làm xói mòn niềm tin trong các tổ chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả một chế độ. Thấy trước được sự nguy hại của tệ tham nhũng và thực trạng tình hình tham nhũng hiện nay đang diễn ra ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ và nhấn mạnh là: Tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân và là nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta [23, tr. Tham nhũng thường gắn với yếu tố quyền lực, khi một người được giao nắm giữ quyền lực, với quyền lực đó, trong hoàn cảnh cụ thể, họ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao đã thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật được luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, của Nhà nước và của xã hội nhằm mục đích vụ lợi.
Dưới góc độ xã hội, tham nhũng là một hiện tượng xã hội chứ không phải là một hiện tượng nhất thời của một người hay một nhóm người trong xã hội. Xã hội càng phát triển thì nạn tham nhũng càng có môi trường phát triển và mức độ nguy hiểm, thủ đoạn của loại tội phạm này sẽ tinh vi hơn. Dưới góc độ chính trị, tham nhũng thể hiện sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, công chức Nhà nước mà biểu hiện của nó là tình trạng quan liêu, mua bán chức quyền để vụ lợi. Dưới góc độ kinh tế, tham nhũng không chỉ gây ra thiệt hại trong việc làm thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân mà nó còn kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Trong khoa học và thực tiễn có nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng, tội phạm về tham nhũng. Để có thể đưa ra một khái niệm chính xác về tội phạm tham nhũng, trước hết cần tìm hiểu khái niệm về tham nhũng. Ngân hàng Thế giới định nghĩa, tham nhũng là “lạm dụng công quyền để tư lợi”. Điều này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm 12 dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với nhà nước và các hoạt động của nhà nước, việc nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn tại của khu vực công.
Khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công.