Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 1. Những vấn đề chung của nghĩa vụ quân sự và pháp luật về nghĩa vụ quân sự 1. Khái niệm nghĩa vụ quân sự, pháp luật về nghĩa vụ quân sự 1. Khái niệm nghĩa vụ quân sự TheoWikipedia tiếng Việt, nghĩa vụ quân sự được định nghĩa đơn giản nhất, đó là nghĩa vụ mà một cá nhân hoặc một nhóm người thực hiện trong quân đội hoặc lực lượng dân quân, cho dù họ phải thực hiện một công việc đã được sắp xếp trước mà không được lựa chọn.
Tại Điều 4 Luật NVQS 2015 nêu “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội nhân dân Việt Nam”. Như vậy NVQS là nghĩa vụ của công dân đối với tổ quốc, công dân phải thực hiện các quy định của pháp luật về NVQS khi tham gia quan hệ xã hội. Nghĩa vụ quân sự được thực hiện thông qua việc phục vụ trong quân đội nhân dân, bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong lực lượng DBĐV và phục vụ trong các lực lượng khác được pháp luật công nhận. Nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ vẻ vang mà còn là trách nhiệm và bắt buộc phải thực hiện đối với mọi công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Luật NVQS năm 2015 đã bổ sung quy định về đối tượng được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ (công dân phục vụ trong lực lượng cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia công an nhân dân) và đối tượng được công nhận hoàn thành NVQS tại ngũ trong thời bình (Điều 4) để bảo đảm bình đẳng về địa vị pháp lý đối với công dân phục vụ trong lực lượng cảnh sát biển; công dân đã, đang thực hiện nghĩa vụ tham gia công an nhân dân 7 e (CAND), thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV, phục vụ trên tàu kiểm ngư, phục vụ tại Đoàn kinh tế - Quốc phòng. theo quy định của pháp luật. Để góp phần bảo vệ tổ quốc, công dân phải thực hiện NVQS và tham gia xây dựng nền QPTD, tại Điều 45 Hiến pháp 2013 nêu “Công dân thực hiện NVQS và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân là đã góp phần cao quý vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN” 1. Khái niệm pháp luật về nghĩa vụ quân sự Pháp luật về nghĩa vụ quân sự, là hệ thống các quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến NVQS.
Cụ thể là toàn bộ những văn bản pháp luật quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân và chế độ chính sách, ngân sách bảo đảm, cùng các chế tài xử phạt, xử lý vi phạm về nghĩa vụ quân sự. Như vậy nội hàm của pháp luật về nghĩa vụ quân sự rộng lớn và bao trùm hơn nghĩa vụ quân sự, nó điều chỉnh toàn bộ những quan hệ xã hội liên quan đến nghĩa vụ quân sự. Đặc điểm của nghĩa vụ quân sự, pháp luật về nghĩa vụ quân sự 1. Đặc điểm của nghĩa vụ quân sự Nghĩa vụ quân sự có những đặc điểm sau: Thứ nhất, là nghĩa vụ vẻ vang, thiêng liêng của công dân, công dân vinh dự, tự hào khi thực hiện NVQS, khi hoàn thành NVQS được nhà nước, xã hội tôn vinh, nghi nhận, nó khác với nghĩa vụ dân sự phát sinh từ cam kết, hợp đồng.
Thứ hai, chủ thể thực hiện nghĩa vụ quân sự là công dân Việt Nam (chủ yếu là nam công dân), trong độ tuổi, có đủ tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, sức khỏe theo quy định của pháp luật, nó gắn với quyền nhân thân và không thể thay thế, mọi nam công dân trong độ tuổi NVQS bắt buộc phải tự mình thực hiện, không thể ủy quyền hoặc chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện. Thứ ba, nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, nhưng đồng thời cũng là quyền của công dân, công dân được quyền phát huy dân 8 e chủ, được thể hiện quyển làm chủ của mình đối với đất nước và có những quyền lợi khi thực hiện NVQS. Thứ tư, mọi công dân trong độ tuổi thực hiện NVQS đều bình đẳng trong thực hiện NVQS, đó là phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của QĐND Việt Nam, không phân biệt địa vị, đẳng cấp.; công dân trốn tránh, không chấp hành các quy định của pháp luật về NVQS thì đều bị xử lý bởi những chế tài cụ thể cả về hành chính, hình sự. Thứ năm, nghĩa vụ quân sự chỉ áp dụng đối với đối tượng cụ thể, ở độ tuổi nhất định và trong khoảng thời gian nhất định theo quy định của Luật NVQS.
Khi đất nước có chiến tranh, cần huy động sức người, sức của bảo vệ tổ quốc thì đối tượng, độ tuổi, thời gian thực hiện NVQS được thực hiện theo các quy định của pháp luật về NVQS thời chiến. Đặc điểm của pháp luật về nghĩa vụ quân sự Pháp luật về NVQS có những đặc điểm sau: Thứ nhất, là những văn bản pháp luật bao gồm Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, hướng dẫn và những văn bản pháp luật liên quan đến NVQS; nó thể hiện đường lối của Đảng, ý chí của nhà nước, nguyện vọng của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật về NVQS là cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thứ ba, là cơ sở pháp lý quan trọng quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và bắt buộc công dân thực hiện, nhưng đồng thời cũng động viên, ghi nhận, tôn vinh, đãi ngộ khi họ hoàn thành nghĩa vụ vẻ vang của mình đối với tổ quốc.
Thứ tư, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện pháp luật NVQS và công tác bảo đảm; tổ chức, cá nhân sai phạm đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vai trò của nghĩa vụ quân sự, pháp luật về nghĩa vụ quân sự 1. Vai trò của nghĩa vụ quân sự Thứ nhất, thông qua việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, tạo ra nguồn nhân lực để xây dựng quân đội, mỗi công dân khi thực hiện NVQS là đã góp phần xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng LLVT với ba thứ quân vững mạnh. 9 e Thư hai, tham gia NVQS, xây dựng quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tham gia xây dựng nền QPTD là đã góp phần vào sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thứ ba, thực hiện NVQS nhiêm minh, công bằng, bình đẳng tạo ra động lực mạnh mẽ, nguồn lực to lớn trong xây dựng QĐND, xây dựng nền QPTD, thế trận chiến tranh nhân dân; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, bảo vệ tổ quốc và góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế gới. Vai trò của pháp luật về nghĩa vụ quân sự Thứ nhất, là sự kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta. Thứ hai, là cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức, cá nhân chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật NVQS, nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc một cách nghiêm minh, hiệu quả. Thứ ba tạo điều kiện cho nhân dân phát huy dân chủ và thực hiện quyền làm chủ của mình, làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng đối với tổ quốc.
Thứ tư đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm nòng cốt trong xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Thứ năm, là cơ sở quan trọng xây dựng nền QPTD vững mạnh, sẵn sàng đánh bại kẻ thù xâm lược, bảo về vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống. Nội dung của nghĩa vụ quân sự, pháp luật về nghĩa vụ quân sự 1. Nội dung của nghĩa vụ quân sự Bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị.
Phục vụ tại ngũ là việc công dân nhập ngũ, phục vụ có thời hạn trong lực lượng thường trực của QĐND Việt Nam và lực lượng Cảnh sát biển; còn phục vụ trong ngạch dự bị là việc công dân trong độ tuổi NVQS, theo đối tượng được pháp luật quy định, đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị của QĐND Việt Nam. Thứ nhất, phục vụ tại ngũ 10 e - Độ tuổi gọi nhập ngũ Luật NVQS năm 1981 quy định độ tuổi gọi nhập ngũ là từ 18 - 27 tuổi, sửa đổi năm 2005 quy định là từ đủ 18 tuổi đến 25 tuổi. Luật NVQS năm 2015 đã kế thừa độ tuổi nhập ngũ là 18 - 25 và bổ sung quy định “công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi” nhằm tạo điều kiện thuận lợi để công dân có điều kiện tham gia học tập nhưng vẫn bảo đảm sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự. Công dân nam trong độ tuổi thực hiện NVQS có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong QĐNDViệt Nam.
Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện NVQS trong thời bình, nếu tự nguyện và quân đội có nhu cầu thì được phục vụ tại ngũ. - Thời hạn, thời gian phục vụ đối với hạ sỹ quan, binh sỹ tại ngũ trong quân đội. Luật NVQS năm 2015 quy định trong thời bình thời hạn phục vụ là 24 tháng, tăng thêm 6 tháng so với luật NVQS năm 1981 sửa đổi năm 2005, đây là điểm mới, phù hợp nhằm bảo đảm cho hạ sỹ quan, binh sỹ (HSQ, BS) có đủ thời gian huấn luyện, nắm bắt các trang bị, khí tài mới hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và tạo nguồn dự bị động viên có chất lượng sau này. Thời hạn phục vụ của HSQ, BS kéo dài không quá 06 tháng và chỉ Bộ trưởng BQP mới được quyết định kéo dài trong các trường hợp: Để bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ); đang thực thực hiện nhiệm vụ phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn.
Khắc phục được tình trạng vận dụng kéo dài không đúng quy định trước đây, nhất là về đối tượng kéo dài, làm ảnh hưởng đến ngân sách của Quân đội.