phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chƣơng cơ bản: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Chƣơng 2: Thực trạng về tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Cơ khí Vận tải Cao su Dầu Tiếng. Chƣơng 3: Tổ chức kế toán quản trị Công ty Cổ phần Cơ khí Vận tải Cao su Dầu Tiếng. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Tổng quan về kế toán quản trị 1.
ịch sử hình thành và phát triển kế toán quản trị Cùng với sự phát triển tập trung và chuyên môn hóa quá trình kinh doanh đã hình thành nhiều ngành, nhiều dạng tổ chức với nhiều loại sản phẩm dịch vụ phong phú có phƣơng thức quản lý riêng biệt. Đặc biệt, sự tách rời quyền sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp và quyền quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp đã dẫn đến sự cần thiết phải có thông tin kế toán quản trị để hình thành các quyết định của những nhà quản lý điều hành doanh nghiệp. Để Ban quản trị điều hành doanh nghiệp có thể kiểm soát một cách có hiệu quả tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình, kế toán phải biết tiên liệu kết quả và dự đoán vào việc quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản trị đƣợc áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực kinh doanh, kế cả các tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.
Nếu nhƣ kế toán tài chính đã ra đời cách đây rất lâu, thì cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ngƣời ta còn biết rất ít về kế toán quản trị. Theo giáo sƣ Lyle E.Jacobsen viết trên báo London Economist tháng 06/1960 thì, ngƣời đầu tiên viết về kế toán quản trị là Thomas Suther Land – một nhà kinh doanh ngƣời Anh. Vào năm 1875, ông đã viết: “Các doanh nghiệp cần phải xác định đƣợc lợi nhuận của một năm hoặc một khoảng thời gian ngắn hơn nữa. Cho nên có một điều hiển nhiên là các nhà quản lý cần phải nắm đƣợc các thông tin chi tiết về hoạt động của doanh nghiệp, các thông tin này có thể thu thập đƣợc ngay trong thực tiễn hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, nó trợ giúp cho các nhà quản lý hiểu đƣợc nhanh chóng và rõ ràng những nguyên nhân có thể ảnh hƣởng tốt, xấu đến hoạt động của doanh nghiệp.
Kế toán quản trị đƣợc áp dụng đầu tiên ở Bắc Mỹ và Anh vào nửa cuối thế kỷ 19 trong các ngành công nghiệp dệt lụa, đƣờng sắt sau đó thâm nhập vào các ngành công nghiệp thuốc lá, luyện kim, hóa chất… và đến năm 1925 kế toán quản trị đã thâm nhập vào hầu hết các ngành kinh tế và đƣợc định hình phát triển cho đến nay. 7 Các sự kiện đã thúc đẩy phát triển của kế toán quản trị đó là: sự cạnh tranh trong kinh doanh toàn cầu; sức ép khốc liệt của giá thành, sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật trong lĩnh vực tự động hóa; khả năng so với trong việc thu thập và báo cáo thông tin và sự chuyển động mạnh mẽ theo hƣớng vƣợt khỏi các quy định của các ngành dịch vụ. Những thay đổi do các sự kiện này đã đem đến và làm tăng thêm nhu cầu về thông tin của các nhà quản lý, đặc biệt là các thông tin có liên quan đến hoạt động nội bộ mà họ không thể nào có đƣợc từ các báo cáo thu thập truyền thống và bảng cân đối kế toán. Kế toán quản trị là gì? Theo định nghĩa của hiệp hội kế toán Mỹ (NAA) – văn kiện số 1A tháng 03/1981, thì: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch, trong việc kiểm soát và điều hành hoạt động của doanh nghiệp.
Quy trình của kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý những thông tin này theo hƣớng có lợi nhất cho doanh nghiệp.” Theo thông tƣ 53/2006/TT-BTC thì thông tin hoạt động nội bộ mà kế toán quản trị cung cấp có thể là: chi phí của từng bộ phận, từng công việc, từng sản phẩm, phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lƣợng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tƣ ngắn hạn, dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên ta có thể đƣa ra khái niệm tổng quát về kế toán quản trị nhƣ sau: Kế toán quản trị là một chuyên ngành kế toán thực hiện việc ghi chép, đo lƣờng, tính toán, thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế có thể định lƣợng nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh. Mục tiêu của kế toán quản trị Mục tiêu cơ bản của kế toán quản trị là cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản lý công ty. Tùy theo nhu cầu của nhà quản lý, 8 KTQT sẽ cung cấp các thông tin dạng khác nhau.
Tựu chung lại, thông tin KTQT cung cấp giúp nhà quản lý thực hiện những công việc sau: - Lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. - Tổ chức, điều hành và kiểm soát hiệu quả hoạt động và trách nhiệm quản lý của tất cả các bộ phận trong tổ chức. - Ra các quyết định kinh tế đúng đắn. Vai trò của kế toán quản trị Theo Bộ môn Kế toán quản trị Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2013), thì: “Kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho những ngƣời quản lý nhằm thực hiện tốt chức năng quản trị.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản trị luôn thƣờng xuyên phải thực hiện các quyết định của mình dựa vào các nguồn thông tin đáng tin cậy khác nhau. Trong đó thông tin KTQT có vai trò hết sức quan trọng vì đó là những thông tin kinh tế đƣợc lƣợng hóa, phân tích, thích hợp cho từng quyết định khác nhau”. Để thực hiện một quyết định mang lại hiệu quả, nhà quản trị không chỉ dựa trên những thông tin do KTQT cung cấp mà phải dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau. Mỗi nguồn thông tin có tầm quan trọng riêng của nó.
Trong đó thông tin KTQT nhƣ là một thƣớc đo hiệu quả về sự vận hành trong tƣơng lai. Nếu nhà quản trị ra quyết định mà thiếu nguồn thông tin KTQT thì quyết định đó thiếu cơ sở khoa học để chứng minh sự hiệu quả của nó. Tùy vào từng cấp quản lý khác nhau, yêu cầu về thông tin KTQT đƣợc đáp ứng cũng ở mức độ khác nhau. Nhà quản trị cấp càng cao thì yêu cầu thông tin KTQT càng nhiều và vai trò của thông tin càng quan trọng.
Trong môi trƣờng kinh doanh ở giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vai trò của KTQT càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Việc ứng dụng KTQT vào doanh nghiệp sẽ giúp tiết kiệm đƣợc chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Yêu cầu tổ chức công tác kế toán quản trị - Công tác kế toán quản trị phải đáp ứng đƣợc việc ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin phù hợp cho từng đối tƣợng sử dụng thông tin và phải đảm bảo tính liên thông với hệ thống kế toán tài chính. - Công tác kế toán quản trị phải đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý của công ty.
Phải đáp ứng đƣợc yêu cầu lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định của nhà quản lý. - Công tác kế toán quản trị phải phù hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của công ty ở hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. - Tổ chức hệ thống kế toán quản trị phải đảm bảo tính hiệu quả về mặt thời gian cũng nhƣ về mặt chi phí. - Phải ứng dụng đƣợc công nghệ thông tin trong công tác KTQT tại công ty.TS Phạm văn Dƣợc và TS.
Trần Văn Tùng, 2011, trang 25) 1. Các phƣơng pháp sử dụng trong kế toán quản trị KTQT sử dụng các phƣơng pháp sau: - Phương pháp chứng từ kế toán: do đặc điểm riêng của KTQT nên ngoài việc sử dụng các chứng từ theo qui định, KTQT còn sử dụng nhiều chứng từ nội bộ khác để phục vụ cho việc thu thập, phân loại, xử lý thông tin nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý công ty. - Phương pháp tài khoản: để phục vụ cho yêu cầu cung cấp thông tin, phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ tại công ty, KTQT phải thiết kế hệ thống tài khoản chi tiết phù hợp với đặc điểm, qui mô hoạt động và yêu cầu quản lý tại công ty. - Phương pháp tính giá: bên cạnh việc cung cấp thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ, KTQT còn cung cấp thông tin về chi phí, giá thành cho kế toán tài chính để lập các báo cáo tài chính cung cấp cho bộ phận bên ngoài.
Vì thế, ngoài những phƣơng pháp tính giá đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin trong nội bộ, KTQT còn phải tuân thủ những nguyên tắc tính giá các yếu tố đầu vào, đầu ra theo các chuẩn mực kế toán hiện hành nhằm đảm bảo đƣợc tính trung thực, hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính. 10 - Phương pháp tổng hợp, cân đối: phƣơng pháp tổng hợp cân đối đƣợc vận dụng trong KTQT thông qua việc xây dựng các chỉ tiêu trên hệ thống báo cáo KTQT phải đảm bảo tính tổng hợp và cân đối. - Ngoài ra do đặc thù của KTQT là cung cấp thông tin cho nhà quản lý, nên KTQT còn sử dụng thêm những phƣơng pháp nhƣ sau: * Phƣơng pháp toán học: KTQT sử dụng phƣơng pháp này thông qua việc trình bày thông tin dƣới dạng hàm số, phƣơng trình, đồ thị… để xử lý thông tin phục vụ cho việc ra quyết định. * Phƣơng pháp phân tích chênh lệch: để phục vụ cho công tác kế toán quản tri, KTQT còn sử dụng phƣơng pháp phân tích chênh lệch thông qua việc sử dụng phƣơng pháp so sánh.
* Ngoài ra để phân tích ảnh hƣởng của các nhân tố đến đối tƣợng phân tích, KTQT còn sử dụng phƣơng pháp thay thế liên hoàn. So sánh kế toán quản trị với kế toán tài chính.