Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên của Trường đại học ngoài công lập. Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên của Trường đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP 1.
Đội ngũ nhân lực và phát triển đội ngũ nhân lực 1. Khái niệm nhân lực và đội ngũ nhân lực Khái niệm đội ngũ Đội ngũ được hiểu và định nghĩa theo rất khía cạnh khác nhau. Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước, đội ngũ y bác sĩ, đội ngũ giảng viên… đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là khối đông người tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu. Theo cách hiểu khác thì đội ngũ là một tập hợp người, gồm số đông những người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng.
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Chỉ một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định. Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: “Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần”. Khái niệm nhân lực Nhân lực là sức lực nằm trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nó thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, nó bao gồm sức khỏe, trình độ, tâm lý, ý thức, mức cố gắng, sức sáng tạo, lòng say mê.
Thực tế đã chứng minh vai trò của con người trong sản xuất là vô cùng quan trọng, nhân lực là yếu tố trung tâm trong mọi yếu tố khác của sản xuất. Khi không có nhân lực, mọi yếu tố trung tâm khác sẽ không được vận hành, sử dụng vào sản xuất. Vì vậy có thể hiểu nhân lực là nhân tố không thể thiếu trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 “Nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đều đề cập đến khái niệm nhân lực với các góc độ khác nhau.
Lê Thanh Hà (2012), Giáo trình quản trị nhân lực (tập 1), NXB Lao Động – Xã Hội, Hà Nội. Trong phạm vi của tổ chức, nhân lực trong tổ chức chính là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi con người, nó bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên.
Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), Quản trị nhân lực, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội. Theo khía cạnh cá nhân con người thì nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Nguyễn Tiệp (2011) đã đưa ra khái niệm: “Nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực căn bản của tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn, (2016), nhà xuất bản Trường Đại học Thương Mại có viết: “Nhân lực trong tổ chức hay trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức/doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo David Begg: “Nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”.
Từ các quan điểm trên thì nhân lực có thể được định nghĩa như sau: Nhân lực là khả năng lao động của xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, là tổng thể của các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động. Trong phạm vi bài luận văn, nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức. Khái niệm đội ngũ nhân lực Từ khái niệm đội ngũ và khái niệm nhân lực thì có thể hiểu “Đội ngũ nhân lực là một tập thể nhiều người sử dụng khả năng lao động, yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần”.
Phát triển nhân lực Phát triển nhân lực Phát triển được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn”. Trong Từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới”. Con người và mọi sự vật đều thay đổi theo thời gian, nhưng sự phát triển được bao hàm cả khía cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối. Vậy PTNL có thể được hiểu như thế nào? Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về PTNL.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo tác giả Trần Xuân Cầu năm (2008), giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực: “Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nhân lực, tạo ra cơ cấu nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao”. Gilley và các đồng sự trong cuốn sách “Nguyên tắc của PTNNL”, 2002 thì: “PTNL là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới”. Nguyễn Vân Điềm và PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân trong “Giáo trình quản trị nhân lực”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 cho rằng: “PTNL (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động”. Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, PTNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực. Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): PTNL, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người. Trên góc độ vĩ mô, PTNL là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nhân lực xã hội với số lượng và chất lượng và cơ cấu phù hợp đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi Trường. PTNL có các cách thức sau: - Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi Trường và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu về giới.
- Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các thành viên trong xã hội hoặc trong tổ chức. - Phát triển về cơ cấu dân cư: là sự phát triển cơ cấu dân cư trẻ, với phần nhiều người trong độ tuổi lao động.