Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Thành Phố Sơn La

Luận văn thạc sĩ phân tích tmu chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố sơn la, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Trường đại học

Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2014

124
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Sơn La

Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại thành phố Sơn La là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Việc làm không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là yếu tố quyết định đến sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội. Chính sách này nhằm tạo ra cơ hội việc làm cho thanh niên, giúp họ phát huy năng lực và đóng góp vào sự phát triển của địa phương.

1.1. Tình hình việc làm cho thanh niên tại Sơn La

Tình hình việc làm cho thanh niên tại Sơn La hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp cao, đặc biệt là trong nhóm thanh niên mới ra trường. Nhiều thanh niên chưa có kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

1.2. Vai trò của chính sách việc làm trong phát triển thanh niên

Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực. Nó không chỉ giúp thanh niên có việc làm mà còn nâng cao chất lượng lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

II. Những Thách Thức Trong Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên

Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Sơn La đang đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này không chỉ đến từ thị trường lao động mà còn từ chính bản thân thanh niên. Việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề là một trong những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thách thức từ thị trường lao động

Thị trường lao động tại Sơn La đang có sự biến động lớn. Nhu cầu về lao động có tay nghề cao ngày càng tăng, trong khi đó, nhiều thanh niên vẫn chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng.

2.2. Thách thức từ nhận thức của thanh niên

Nhiều thanh niên vẫn còn tư tưởng chờ đợi việc làm thay vì chủ động tìm kiếm cơ hội. Điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp kéo dài và không tận dụng được nguồn lực lao động.

III. Phương Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Sơn La

Để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, cần có những phương pháp đồng bộ và hiệu quả. Các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp và kết nối doanh nghiệp với thanh niên là những giải pháp cần thiết.

3.1. Đào tạo nghề cho thanh niên

Đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng giúp thanh niên có kỹ năng phù hợp với nhu cầu thị trường. Các cơ sở đào tạo cần cập nhật chương trình học để đáp ứng yêu cầu thực tế.

3.2. Hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên

Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên cần được đẩy mạnh. Cung cấp vốn, tư vấn và đào tạo kỹ năng khởi nghiệp sẽ giúp thanh niên tự tạo việc làm cho mình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chính Sách Giải Quyết Việc Làm

Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Sơn La đã có những ứng dụng thực tiễn đáng ghi nhận. Nhiều chương trình đã được triển khai, giúp thanh niên có cơ hội việc làm và phát triển bản thân.

4.1. Các chương trình hỗ trợ việc làm

Nhiều chương trình hỗ trợ việc làm đã được triển khai tại Sơn La, như chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn cho thanh niên khởi nghiệp. Những chương trình này đã giúp nhiều thanh niên tìm được việc làm ổn định.

4.2. Kết quả đạt được từ chính sách

Kết quả từ chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều thanh niên đã có việc làm ổn định, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.

V. Kết Luận Về Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Sơn La

Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Sơn La cần được tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và thanh niên để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.1. Định hướng tương lai cho thanh niên

Định hướng tương lai cho thanh niên cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề. Cần tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn nữa để thanh niên có thể phát triển.

5.2. Khuyến nghị cho chính sách

Cần có những khuyến nghị cụ thể cho chính sách giải quyết việc làm, như tăng cường hỗ trợ khởi nghiệp, cải thiện chất lượng đào tạo nghề và kết nối thanh niên với doanh nghiệp.

18/06/2025
Luận văn thạc sĩ tmu chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. Một số lý luận về việc làm và việc làm cho thanh niên 1. Lao động và việc làm 1.

Khái niệm lao động, việc làm và mối quan hệ giữa lao động và việc làm * Lao động Lao động là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của mọi nền sản xuất xã hội. Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến khái niệm lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau về lao động. Theo quan điểm Kinh tế chính trị “lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người để tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm tạo ra của cải phục vụ nhu cầu của mình và xã hội”.1 Lao động không chỉ là quá trình con người cải tạo thế giới tự nhiên mà còn là quá trình cải tạo chính bản thân mình.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lê nin phân biệt rõ sự khác nhau giữa lao động và sức lao động để từ đó giải thích một số vấn đề kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, sức lao động là tổng hợp toàn bộ những năng lực về thể chất và tinh thần tồn tại trong con người, gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng – kỹ xảo. có sẵn trong cơ thể con người. Còn lao động là hình thức biểu hiện hoạt động của sức lao động, trạng thái hiện thực khi chúng ta đưa sức lao động vào sử dụng.

Về nguyên tắc không có “thị trường lao động” mà là “thị trường sức lao động” vì cái người lao động bán là lao động. Tuy nhiên, Kinh tế học hiện đại và theo cách dùng phổ biến hiện nay người ta vẫn sử dụng khái niệm “thị trường lao động”. Lao động ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hàm chứa cả yếu tố con người, năng lực lao động của họ và sự kỳ vọng của người mua về một sự phục vụ mang lại một kết quả nhất định. 1 Giáo trình Kinh tế chính trị.

Dùng cho khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng. NXB CRQG, Hà Nội 2005) Luan van 12 Trong giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động, Trường ĐH Kinh tế quốc dân: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người”. Còn theo tác giả Thúy Anh đề cập trong Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế thì “Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tọa ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội”.2 Tuy nhiên, Kinh tế học hiện đại lại hiểu lao động là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.

Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất, còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. 3 Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.

Có rất nhiều quan điểm về lao động tuy nhiên theo tác giả nhận thấy khái niệm lao động theo Kinh tế học là đầy đủ các yếu tố nhất, đó là: Lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa: Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động.4 Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.

Dưới nhiều góc độ khác nhau khái niệm lao động được nhìn nhận khác nhau, tuy vậy đều có thể quy về các đặc điểm chung của các định nghĩa đó là: - Chủ thể của lao động là con người, hoạt động có mục đích, một cách chủ động. - Đối tượng của lao động đó tự nhiên hay các loại hình dịch vụ xã hội. - Hoạt động đó là nhằm cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải thảo mãn nhu cầu con người. * Việc làm 2 Thúy Anh, Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, NxB ngoại thương 2011 3 Bộ NN & PT Nông thôn , http://xttm.vn/Site/vi-VN/76/tapchi/141/144/4568/Default.aspx 4 Bộ NN & PT Nông thôn , http://xttm.vn/Site/vi-VN/76/tapchi/141/144/4568/Default.aspx Luan van 13 Việc làm tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.

Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau do hệ thống sản xuất khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.

Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Theo quan điểm pháp lý thì Điều 9 Bộ luật lao động 2012 và Điều 3 Luật Việc Làm 2013 đã khái quát hóa việc làm thành định nghĩa:“Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo quan điểm kinh tế - xã hội thì Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm bằng cách mô tả đặc điểm của việc làm “gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình”.5 Nhìn chung, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công; đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình; hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Nêu so sánh khái niệm việc làm của Luật Việc Làm 2013 hay Luật Lao động 2012 thì ta thấy khái niệm trong Luật của Việt Nam trên nói chung khá hẹp nếu so sánh với khái niệm của ILO, cụ thể ta có thể thấy: Thứ nhất, Theo định nghĩa của Luật Việt lam của Việt Nam thì hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.

Theo định nghĩa 5 http://www.org/content/dam/vietnam/docs/Publications/5%20Viec%20lam%20va%20Thi %20truong%20Lao%20dong.pdf Luan van 14 của ILO thì công việc nội trợ được coi là việc làm do đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình. Thứ hai, Nếu theo định nghĩa trong Luật Việc Làm của Việt Nam sẽ gây ra khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác lại không được thừa nhận. Ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề.

Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. Bởi vậy định nghĩa của ILO bao quát hơn trên bình diện toàn thế giới. Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ khái niệm thiếu việc làm hay bán thất nghiệp. Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, mà họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm để bổ sung.

Theo ILO thì Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành. Ngoài các định nghĩa khác nhau về việc làm còn có sự phân biệt khác nhau về các khái niệm gắn với công tác quản lý lao động và do vậy là yếu tố liên quan đến chính sách giải quyết việc làm như: “việc làm chính thức”, “việc làm phi chính thức”, “việc làm không tử tế”. Đây là vấn đề có liên hệ khá mật thiết với lực lượng lao động trẻ (thanh niên) vì lao động thanh niên có tính cơ động cao, dễ thay đổi công việc, thích làm các công việc mạo hiểm… Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau do hệ thống sản xuất khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.

Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Tuy nhiên có thể hiểu việc làm tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có Luan van 15 của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.

* Mối quan hệ giữa lao động và việc làm Sức lao động và lao động là hai khái niệm có sự phân biệt nhất định. Dù các nhà kinh tế học hiện đại có đồng nhất khái niệm lao động với sức lao động thì giữa hai khai niệm này vẫn có sự phân biệt khá rõ rệt. Sức lao động là yếu tố vật chất và tinh thần tạo nên lao động, hoạt động lao động. Ngược lại, lao động là biểu hiện, là kết quả vận dụng sức lao động vào công việc cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Thành Phố Sơn La" trình bày các chính sách và giải pháp nhằm hỗ trợ thanh niên trong việc tìm kiếm việc làm tại Sơn La. Nội dung chính của tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra cơ hội việc làm cho thanh niên, từ đó góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tài liệu cũng đề cập đến các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp và các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp nhằm thu hút lao động trẻ.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến việc làm và phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở việt nam, nơi đề cập đến các chính sách việc làm cho nhóm đối tượng đặc biệt. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách hỗ trợ lao động Việt Nam. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của chi cục quản lý thị trường tỉnh lạng sơn cũng là một nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực trong khu vực. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và giải pháp trong lĩnh vực việc làm và phát triển nguồn nhân lực.