Đặt vấn đề Từ bao đời nay, nhân dân ta đã có tập quán chăn nuôi lợn, con lợn luôn giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng và giá trị trong các loài vật nuôi. Với chức năng vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vừa là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, cải thiện và năng cao đời sống của người nông dân. Đặc biệt từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, do việc nhập ngoại các giống lợn cao sản, đã giúp cho chăn nuôi lợn phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, nhiều hộ nông dân đã nuôi hàng chục con lợn, nhiều trang trại nuôi từ hàng trăm đến hàng nghìn con lợn, phương thức chăn nuôi lợn truyền thống, nhỏ lẻ, phân tán, tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp đã dần được thay thế bằng phương thức chăn nuôi tập trung, theo hình thức và quy mô công nghiệp. Cùng với sự phát triển của chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống, đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống lợn ở nước ta, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của việc phát triển chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh xảy ra còn phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi tập trung trong trang trại cũng như nuôi ở gia đình. Một trong những bệnh làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại đang nuôi hiện nay là bệnh viêm đường sinh dục. Bệnh viêm đường sinh dục không những ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ mắc bệnh ở đàn lợn con đang trong thời gian theo mẹ tăng cao do thành e 2 phần của sữa mẹ bị thay đổi do ảnh hưởng của bệnh viêm đường sinh dục. Từ những nhận định trên cho thấy việc nghiên cứu tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản nuôi tập trung và tìm ra phương pháp phòng trị bệnh là một việc làm cần thiết.
Với mục đích góp phần nhỏ trong việc ổn định nguồn giống, nâng cao năng xuất sinh sản của đàn lợn nái đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản lợn nái em tiến hành nghiên cứu để tài: “ Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại sinh sản tại trại Trần Văn Tuyên – huyện Yên Thủy – tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị”. Mục tiêu của đề tài - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau khi đẻ. - Đưa ra các giải pháp phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản nuôi trong trang trại. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái, là cơ sở khoa học cho biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản, đưa ra phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung lợn nái có hiệu quả cao nhằm tăng năng suất sinh sản, ổn định nguồn giống và đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái. Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [8], cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài.Sơ đồ cấu tạo đƣờng sinh dục lợn nái + Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo + Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình. - Bộ phận sinh dục bên trong. Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai.
e 4 Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ. Miền tuỷ có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ. Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
Miền vỏ gồm ba thành phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt. Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt. Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch.
Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng. Theo Trần Thị Dân (2004) [2], cho biết: phía ngoài của buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền: Miền vỏ và miền tuỷ. Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về sinh dục.
Miền tuỷ của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh mạch bạch huyết và mô liên kết. Trên buồng trứng có từ 70.000 noãn bào, ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng. * Ống dẫn trứng (vòi Fallop) Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn: - Tua diềm: có hình giống như tua diềm.
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng. - Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm. - Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung. e 5 Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời.
* Tử cung (Uterus) Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại. Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai. Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng. - Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu.
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung. Sừng tử cung dài 40-65cm. Thân tử cung dài 5cm. Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo.
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng. Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản. Gồm: - Chuyển vận tinh trùng. - Làm tổ, chửa và đẻ.
* Âm đạo (Vagina) Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4]: Âm đạo lợn dài 10-12cm. Âm đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh. Âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp: + Lớp liên kết bên ngoài. + Lớp cơ trơn: Bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung.
+ Lớp niêm mạc: Trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc. Ngoài âm đạo ra còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh ra và là ống thải các chất dịch từ bên trong tử cung. e 6 Bộ phận sinh dục bên ngoài: là những phần ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, gồm: âm môn, âm vật và tiền đình. * Âm môn Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn.
Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudendi). Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae). Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi) * Âm vật (clitoris) Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn. Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại.
Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực. Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới. + Tiền đình (vestibulum) Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo. Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo.
Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết ra dịch nhầy. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái Đặc điểm sinh lý, sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi. Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc.
Ngoài ra, còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: Ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng. Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây: e 7 * Sự thành thục về tính Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: Buồng trứng, tử cung, âm đạo,…Đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản. Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng.
- Giống: Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau. Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn.