CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. KHÁI NIỆM TÌNH THÁI: 1. QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ NGÔN NGỮ HỌC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÌNH THÁI: 1. Tình thái khách quan: Trong mấy chục năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của Ngữ pháp chức năng, của lí thuyết hành vi ngôn ngữ, vấn đề tình thái được các nhà Ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm nghiên cứu.
Nhưng thực ra, vấn đề tình thái (modality, modalité hay modus) đã được các nhà Logic học quan tâm, nghiên cứu từ rất xa xưa. Có thể nói Aristote là nhà Logic học đầu tiên quan tâm đến tình thái. Trong các công trình về Logic học như “De l’interprétation” (Về sự giải thích) [mục 12-13] bàn về sự phân loại mệnh đề hay cuốn “Premiers analytiques” (Những phân tích đầu tiên) [mục 3- 13; 8-22], ông đã đề cập đến vấn đề tình thái. Trong phạm vi của mình, khi xác định tính đúng/ sai hay giá trị chân/ ngụy của mệnh đề, Logic học đã quan tâm đến tình thái của mệnh đề ở các phương diện sau: - Nội dung mệnh đề là hiện thực hay phi hiện thực; - Nội dung mệnh đề là tất yếu hay không tất yếu; - Nội dung mệnh đề là có khả năng xảy ra hay không có khả năng xảy ra.
Theo quan điểm như vậy, các mệnh đề, tuỳ theo mối liên hệ giữa chủ từ và vị từ xét trong mối quan hệ giữa mệnh đề với thực tế, được quy về một trong ba nhóm sau: - Nhóm các mệnh đề hiện thực: Các mệnh đề hiện thực phản ánh sự xác nhận đối tượng có hay không có đặc trưng do vị từ nêu ra. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhóm các mệnh đề tất yếu: Các mệnh đề tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng do vị từ biểu thị có ở đối tượng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện. - Nhóm các mệnh đề khả năng: Các mệnh đề khả năng phản ánh xác suất đối tượng có hay không có đặc trưng nêu ở vị từ. Bảng màu tình thái trong Lôgic học rất đơn giản và đặc biệt là hoàn toàn loại trừ vai trò của người nói.
Người ta gọi đây là tình thái khách quan (tình thái của Logic học) trong sự đối lập với tình thái chủ quan (tình thái của Ngôn ngữ học). Chẳng hạn, xét các phát ngôn sau: 1) Nó đã đi Hà Nội. 2) Nó lại đi Hà Nội. 3) Nó phải đi Hà Nội.
4) Nó sắp đi Hà Nội. 5) Có lẽ nó đi Hà Nội. Trong số các phát ngôn trên, các phát ngôn (1), (2) được quy về nhóm các mệnh đề hiện thực; phát ngôn (3) được quy về nhóm các mệnh đề tất yếu và các phát ngôn (4), (5) được quy về nhóm các mệnh đề khả năng. Trong khi đó, ngược lại, tình thái chủ quan (tình thái ngôn ngữ) lại đặc biệt quan tâm đến vai trò của người nói.
Bảng màu tình thái chủ quan đa dạng, phong phú hơn tình thái khách quan rất nhiều và đòi hỏi một sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt. Tình thái chủ quan: Tình thái chủ quan (tình thái của ngôn ngữ) là một trong những vấn đề rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp của Ngôn ngữ học hiện đại. Có thể nói từ trước đến nay, không có khái niệm ngôn ngữ học nào lại phức tạp, gây nhiều tranh cãi như khái niệm tình thái. Dường như là có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về tình thái thì có bấy nhiêu quan điểm về tình 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đánh giá về tính chất phức tạp của tình thái, V. Panfilov đã phải phát biểu: “không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tính tình thái”. Mặc dù đều xác nhận tình thái là một trong hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu nhưng mỗi tác giả lại hiểu khái niệm tình thái theo một cách khác nhau. Cách hiểu của V.
Bondarenko về khái niệm tình thái không giống như cách hiểu của M. Liapon lại càng không giống cách hiểu của J. Lyons hay của J. Bondarenko cho rằng: “Tính tình thái là phạm trù ngôn ngữ chỉ ra đặc điểm của các mối quan hệ khách quan (tình thái khách quan) được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu đó theo quan niệm của người nói (tình thái chủ quan)”.
Liapon thì cho: “Tính tình thái là một phạm trù chức năng ngữ nghĩa thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn đối với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau của điều được thông báo”. Lyons lại cho rằng tình thái: “là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả”. Ở mức độ khái quát hơn, J. Bybee cho rằng, tình thái là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng toàn bộ nội dung mệnh đề”.
Sở dĩ có sự khác biệt giữa các tác giả trong cách hiểu về tình thái như trên là do: - Các ý nghĩa tình thái trong ngôn ngữ rất phong phú và đa dạng. Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi các đối lập phổ quát như các đối lập hiện thực/ phi hiện thực; tất yếu/ không tất yếu; có khả năng/ không có 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khả năng như Logic học mà là một quá trình nhận thức liên tục bao gồm nhiều khâu, nhiều bước chuyển tiếp từ cực này đến cực kia của sự đối lập, từ chắc chắn đến không thể, từ bắt buộc, cấm đoán đến cho phép và miễn trừ,… - Các ý nghĩa tình thái chủ quan không phân biệt nhau một cách rõ ràng như các ý nghĩa tình thái khách quan mà giao thoa, đan xen, chồng chéo, lồng ghép vào nhau và bổ sung cho nhau tạo thành nhiều tầng nhiều bậc ngữ nghĩa khác nhau thuộc nhiều phạm trù khác nhau nên việc khái quát các ý nghĩa đó thành một phạm trù phổ quát không phải là một việc dễ dàng. - Trong quá trình nghiên cứu, do mục đích nhu cầu của mình, các tác giả nghiên cứu tình thái trong những phạm vi khác nhau nên khó có thể tránh khỏi sự không đồng nhất về quan điểm. Qua trên ta thấy quan điểm của các tác giả về tình thái không thống nhất hoàn toàn với nhau nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tìm thấy một nét chung nào đó trong quan điểm của các tác giả về khái niệm này.
Nhìn chung, các quan điểm của các tác giả có thể quy về hai khuynh hướng chính sau: 1. Khuynh hướng hiểu tình thái theo nghĩa hẹp: Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Charles Bally, nhà Ngôn ngữ học người Pháp, một trong những người có công lớn nhất trong việc mở đường cho việc nghiên cứu về tính tình thái của ngôn ngữ một cách có hệ thống. Theo ông, cấu trúc ngữ nghĩa của một phát ngôn bao giờ cũng gồm hai thành phần: tình thái (modus) và nội dung mệnh đề (dictum). 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phát ngôn = tình thái + nội dung mệnh đề.
Trong đó, nội dung mệnh đề (dictum) là những chất liệu tạo nên phát ngôn, miêu tả sự tình của thế giới hiện thực và được coi là chưa có sự tham gia của người nói (tức là không có tính chủ quan). Và, tình thái (modus) là quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá,. của người nói. Nội dung mệnh đề là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ.
Còn tình thái, gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói (tức những nhân tố thuộc chủ quan của người nói) đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp. Tình thái như vậy, giữ vai trò quan trọng trong việc thực tại hoá một nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực, tức là một phát ngôn trong hoạt động hành chức của nó, một phát ngôn mà trong đó người nói cho biết hành động, trạng thái do vị từ biểu thị là hiện thực hay là khả năng, là có thể hay là không thể, là đáng tin cậy hay không đáng tin cậy, là quan trọng cần lưu tâm chú ý hay là không quan trọng không đáng lưu tâm chú ý, v. tóm lại là người nói cho biết nội dung sự tình nêu trong phát ngôn theo quan điểm, theo cách nhìn nhận, đánh giá chủ quan của mình thì như thế nào, ra làm sao, v. Tình thái cùng với nội dung mệnh đề tác động qua lại tạo nên ngữ nghĩa chung của cả phát ngôn.
Một phát ngôn không thể không có nội dung mệnh đề cũng như không thể không có tình thái. Chẳng hạn, xét các phát ngôn đã nêu ở trên, ta thấy cả năm phát ngôn đều có cùng một nội dung mệnh đề là “nó đi Hà Nội” nhưng quan điểm, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với nội dung mệnh đề đó trong mỗi phát ngôn là không như nhau. Với phát ngôn “Nó đã đi Hà Nội”, người nói biểu thị sự cam kết, xác nhận nội dung mệnh đề là chân thực, là đáng tin cậy và người nói có đầy đủ cơ sở, 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng chứng cho điều đó. Với phát ngôn “Nó lại đi Hà Nội”, người nói không chỉ hàm ý rằng sự tình nêu trong phát ngôn là chân thực, là đáng tin cậy mà còn hàm ý rằng sự tình đó nằm ngoài sự dự tính, chờ đợi, nằm ngoài sự mong muốn của người nói.
Với phát ngôn “Nó phải đi Hà Nội”, người nói trình bày quan điểm, thái độ về sự tình dựa trên tiêu chuẩn sự ràng buộc cho rằng sự tình nêu trong phát ngôn là một điều bắt buộc (khách quan hoặc chủ quan) và do đó có thể còn kéo theo hàm ý rằng đó là điều đáng tiếc, một điều nằm ngoài sự mong muốn, chờ đợi của người nói. Với phát ngôn “Nó sắp đi Hà Nội” và “Có lẽ nó đi Hà Nội”, người nói không bày tỏ sự cam kết, bảo đảm về tính chân thực của sự tình nêu trong phát ngôn. Ở đây người nói không khẳng định cũng không bác bỏ tính hiện thực của nội dung mệnh đề. Sự tình nêu trong các phát ngôn trên chỉ là sự đoán định của người nói.
Nó có thể xảy ra như thế mà cũng có thể không xảy ra như thế.