Tổng quan nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ thần Đông Hải Đại Vương là một thành tố cốt lõi trong hệ thống di sản văn hóa biển đảo miền Bắc, tiêu biểu với hơn 280 cơ sở thờ tự phân bố tại 12 tỉnh thành phố, trong đó thành phố Hải Phòng chiếm vị trí trung tâm với 141 di tích lịch sử - văn hóa. Trải qua gần 8 thế kỷ vận động và bồi lắng văn hóa, hình tượng vị tướng trung quân triều Lý - Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng đã được nhân dân thiêng hóa, trở thành vị thành hoàng và thần bảo hộ nghề nghiệp tối cao của cư dân miền cửa biển. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài bắt nguồn từ thực trạng mai một nhận thức lịch sử trong cộng đồng bản địa, sự nhầm lẫn thần tích qua thời gian và việc thiếu vắng các giải pháp khai thác du lịch bền vững đối với hệ thống di tích, lễ hội tại huyện đảo Cát Hải.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lịch sử - văn hóa về thân thế, sự nghiệp và quá trình thánh hóa tướng quân Đoàn Thượng; giải mã giá trị độc bản của các thực hành tín ngưỡng đặc sắc như lễ hội Chèo thuyền và lễ hội Xa Mã Rước Kiệu; đồng thời đánh giá toàn diện hiện trạng khai thác nhằm hoạch định hệ thống giải pháp liên ngành phát triển du lịch địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào 13 di tích thờ tự tiêu biểu trên địa bàn huyện Cát Hải cùng các điểm di tích đối sánh tại Hải Phòng, với khung thời gian khảo sát trải dài từ các dấu mốc thế kỷ XIII đến nay. Đóng góp của nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc trong việc bảo tồn vốn di sản phi vật thể quý báu, tạo đòn bẩy gia tăng 25-30% lượng khách du lịch văn hóa tâm linh vào mùa thấp điểm, qua đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao sinh kế cho cộng đồng ngư dân ven biển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết văn hóa học tổng thể của Edward Burnett Tylor, xem văn hóa là phức hợp thống nhất giữa tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luật pháp và tập quán xã hội. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình cấu trúc hệ thống văn hóa và tiếp cận địa văn hóa của Giáo sư Trần Quốc Vượng, kết hợp lý thuyết phân loại hình thái tín ngưỡng và phạm trù "cái thiêng" của Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh để luận giải sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội.
Khung lý thuyết vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi:
- Tín ngưỡng dân gian: Niềm tin thiêng liêng vào các lực lượng siêu nhiên định hình qua phương thức ứng xử cộng đồng.
- Thần biển và Thủy thần: Hệ thống thần linh cai quản môi trường sông biển xuất phát từ tâm lý cầu an trước thiên tai bão gió.
- Nhân thần hóa (Thánh hóa nhân vật lịch sử): Quá trình chuyển hóa công trạng của các anh hùng dân tộc thành biểu tượng tâm linh bất tử.
- Tính hỗn dung văn hóa: Hiện tượng dung nạp, đan xen hài hòa giữa văn hóa nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng và văn hóa ngư nghiệp duyên hải.
- Du lịch tâm linh: Loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu trải nghiệm tín ngưỡng, tìm hiểu bản sắc văn hóa và tri ân nguồn cội.
Đặc biệt, nghiên cứu phân tích hệ thống phân loại 3 cấp bậc thần linh theo thiết chế quản lý của các triều đại phong kiến (Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần), điển hình là sự kiện lịch sử năm 1852 khi vua Tự Đức ban hành đồng loạt 13.069 sắc phong nhằm chuẩn hóa quy chế thờ phụng trên cả nước.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ 17 đạo sắc phong cổ bằng chữ Hán trải qua các triều đại Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn; hệ thống văn bia, thần phả, ngọc phả tại các di tích; bản hương ước cổ của làng Hoàng Châu, làng Gia Lộc và các báo cáo khảo sát thực tế của Ban quản lý di tích địa phương.
Về quy trình khảo sát thực nghiệm, cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 13 điểm di tích thờ Đông Hải Đại Vương trên toàn địa bàn huyện Cát Hải. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) để tiến hành phỏng vấn sâu 45 đối tượng chuyên gia và nhân chứng, bao gồm: 15 nghệ nhân dân gian, thủ từ và bô lão am hiểu nghi lễ cổ truyền; 15 cán bộ chuyên trách quản lý văn hóa, du lịch tại Hải Phòng; 15 người dân bản địa cùng du khách tham quan.
Phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp tiếp cận liên ngành (địa lý, văn hóa học, nhân học) và phương pháp so sánh đồng đại - lịch đại được lựa chọn nhằm bóc tách các lớp trầm tích văn hóa từ nguyên gốc thờ Cá Ông đến hình tượng nhân thần thế kỷ XIII. Quy trình xử lý dữ liệu được tiến hành qua các công đoạn thống kê, tổng hợp và phân tích định tính chặt chẽ trong khung thời gian điền dã từ tháng Giêng đến tháng 6 âm lịch hàng năm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu xác định quy mô phân bố rộng lớn của tín ngưỡng thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng với 280 điểm thờ tự tại 12 tỉnh thành miền Bắc, trong đó Hải Phòng là địa bàn đậm đặc nhất với 141 di tích (chiếm tỷ lệ hơn 50% toàn vùng). Riêng huyện đảo Cát Hải lưu giữ 13 di tích đền, đình, miếu phụng thờ nghiêm trang, chứng minh sức sống bền bỉ của một biểu tượng tâm linh trấn giữ miền cửa biển suốt gần 800 năm.
Thứ hai, luận văn chứng minh sự tồn tại của cấu trúc lễ hội kép độc nhất vô nhị mang đậm tính hỗn dung nông - ngư nghiệp:
- Lễ hội Chèo thuyền đình Gia Lộc (tổ chức ngày 21 tháng Giêng): Quy tụ 6 làng xã chia thành 3 đội thi đấu, sử dụng thuyền rồng dài 15 mét với 22 người trạo nhi (1 người phất cờ, 1 người bẻ lái, 20 tay chèo), tranh tài qua cự ly 4,5 km (3 vòng quanh đích, mỗi vòng 1,5 km) nhằm cầu mưa thuận gió hòa và rèn luyện kỹ năng sông nước.
- Lễ hội Xa Mã Rước Kiệu đình Hoàng Châu (từ ngày 9 đến 12 tháng 6 âm lịch): Quy trình chuẩn bị khởi động trước 20 ngày, huy động đội hình rước kiệu chuẩn mực gồm 24 người (8 người khiêng kiệu chính, 8 người kiệu Mẫu, 4 nam quan và 4 nữ quan khiêng kiệu nhỏ) kết hợp màn kéo ngựa gỗ Xa Mã tái hiện khí thế trận mạc thời Lý.
Thứ ba, nghiên cứu ghi nhận giá trị bảo tồn nguyên vẹn của quần thể di tích đình Hoàng Châu (được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố năm 2005). Nơi đây lưu giữ hệ thống hiện vật cổ vô giá trên 289 năm tuổi, bao gồm 1 đôi long mã chế tác từ thế kỷ XVIII, 5 cỗ kiệu rước sơn son thếp vàng (2 cỗ kiệu thế kỷ XVII, 3 cỗ kiệu thế kỷ XVIII), 4 bộ ngai thờ cùng 1 khám tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh nguyên bản.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự hình thành tín ngưỡng thờ Đoàn Thượng tại Cát Hải bắt nguồn từ công lao trấn thủ Hồng Châu năm 1205 dưới triều vua Lý Cao Tông. Ngài đã lập căn cứ thủy quân tại Đảo Quan (Vân Đồn) và bến Gót Ninh Tiếp, dẹp trừ cướp biển Ưng Thiên, dạy dân đắp đê ngăn mặn, cấp ruộng đất và mở trường dạy học. Khi ngài hóa thân, người dân miền biển đã nhân cách hóa lớp tín ngưỡng thờ thần Cá Ông nguyên thủy thành hình tượng danh tướng phù quốc an dân, kết hợp với các nghi lễ thờ Mẫu Tam Phủ và thờ Phật.
So sánh với tín ngưỡng thờ Cá Ông (Nam Hải Đại Vương) của cư dân vùng duyên hải Nam Trung Bộ – nơi gắn liền với tục tống táng xác cá voi, lăng dinh vạn và hát bả trạo – tín ngưỡng thờ Đông Hải Đại Vương tại Cát Hải thể hiện sự khác biệt vượt trội qua nghi thức tế lễ mang đậm phong cách Bắc Bộ. Thay vì tổ chức tang lễ cho sinh vật biển, người dân Cát Hải dâng cúng lễ vật gồm xôi gấc, thủ lợn, hoa quả và bánh chưng, bánh giầy – biểu trưng tối cao của nền văn minh lúa nước.
Để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu nghiên cứu, cơ cấu phân bố 141 di tích trên 10 quận huyện Hải Phòng có thể được trực quan hóa qua Biểu đồ cột (Bar chart), thể hiện rõ huyện An Hải dẫn đầu với 33 di tích (chiếm 23,4%), huyện Kiến Thụy với 22 di tích (15,6%), huyện Tiên Lãng với 17 di tích (12,1%) và Cát Hải với 13 di tích (9,2%). Song song đó, Bảng ma trận đối sánh (Matrix Table) giữa lễ hội Xa Mã Cát Hải và lễ Nghinh Ông miền Trung giúp minh họa sinh động sự khác biệt về không gian thiêng, thần tích, quy cách tế tự và các trò diễn xướng dân gian.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn di sản và phát triển du lịch địa phương:
-
Bảo tồn, tôn tạo khẩn cấp hệ thống di tích và hiện vật cổ:
Tiến hành tu bổ kỹ thuật chống mối mọt và xuống cấp cho 13 di tích tại Cát Hải; ưu tiên bảo tồn nguyên trạng 5 bộ kiệu cổ thời Lê - Nguyễn và đôi long mã 289 năm tuổi tại đình Hoàng Châu.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải phối hợp Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng.
- Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% di tích và hiện vật được lập hồ sơ số hóa bảo tồn.
- Thời gian: Giai đoạn 2026 – 2028.
-
Thiết kế sản phẩm du lịch lễ hội và tour chuyên đề:
Xây dựng 2 tuyến du lịch văn hóa tâm linh liên huyện: Tuyến 1 kết nối di tích nội thành Hải Phòng (Đình Hàng Kênh, Đình Hạ Lý) với huyện đảo Cát Hải; Tuyến 2 kết hợp trải nghiệm lễ hội Xa Mã Hoàng Châu và thắng cảnh Cát Bà.
- Chủ thể thực hiện: Sở Du lịch Hải Phòng liên kết các hiệp hội lữ hành.
- Chỉ số mục tiêu: Tăng 30% lượng khách tham quan văn hóa vào mùa thấp điểm (tháng 6 âm lịch).
- Thời gian: Triển khai thử nghiệm trong 12 tháng.
-
Nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng thuyết minh di sản:
Tổ chức 6 khóa tập huấn chuyên sâu về lịch sử triều Lý và kỹ năng diễn giải di sản văn hóa cho cộng đồng địa phương.
- Chủ thể thực hiện: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Cát Hải.
- Chỉ số mục tiêu: Đào tạo 100% cán bộ ban quản lý di tích và 50 thanh niên địa phương tham gia thực hành diễn xướng di sản.
- Thời gian: Hoàn thành trong 6 tháng.
-
Đẩy mạnh truyền thông số và xuất bản tài liệu quảng bá:
Ứng dụng công nghệ thực tế ảo 3D thuyết minh tự động tại di tích đình Hoàng Châu và Gia Lộc; xuất bản cẩm nang giới thiệu 17 sắc phong và lễ hội độc đáo của vùng biển đảo.
- Chủ thể thực hiện: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Hải Phòng.
- Chỉ số mục tiêu: Phát hành 10.000 ấn phẩm cẩm nang và tiếp cận 100.000 lượt tương tác số.
- Thời gian: Năm 2027.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học để Sở Văn hóa, UBND huyện Cát Hải xây dựng quy hoạch bảo tồn 13 di tích, phục dựng lễ hội truyền thống đúng quy chuẩn và thiết lập hồ sơ đề nghị công nhận di sản cấp quốc gia.
- Doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch: Hỗ trợ các công ty du lịch khai thác tài nguyên văn hóa tâm linh độc thù, thiết kế các chương trình tour trải nghiệm lễ hội Chèo thuyền và Xa Mã, khắc phục tính mùa vụ của du lịch biển đảo Hải Phòng.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Lịch sử: Cung cấp hệ thống tư liệu chuẩn xác về 17 đạo sắc phong cổ, phả hệ dòng họ Đoàn và mô hình dung hợp giữa văn hóa nông nghiệp lúa nước với văn hóa sông biển Bắc Bộ.
- Ban quản lý di tích và cộng đồng cư dân huyện Cát Hải: Làm cẩm nang hướng dẫn chuẩn hóa các nghi thức tế lễ, nâng cao ý thức giữ gìn 5 cỗ kiệu cổ, đôi long mã và phát huy niềm tự hào về truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Thần Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng là nhân vật lịch sử hay thần thoại?
Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng là nhân vật lịch sử có thật cuối triều Lý, sinh năm 1184 tại làng Thung Độ, Hải Dương. Ngài đỗ Mậu tài năm 1204, giữ chức Đô Nguyên Soái trấn giữ vùng duyên hải Hồng Châu. Sau khi mất, công trạng hộ quốc an dân của ngài được triều đình và nhân dân phong tặng danh hiệu Thượng đẳng thần qua 17 đạo sắc phong.
Tín ngưỡng thờ Đông Hải Đại Vương tại Cát Hải khác biệt gì so với lễ Nghinh Ông miền Trung?
Lễ Nghinh Ông miền Trung thuần túy thờ Cá Ông (cá voi) gắn liền với tục mai táng xác cá, hát bả trạo và nhà bạt ven biển. Tại Cát Hải, tín ngưỡng này đã nhân thần hóa gắn với danh tướng Đoàn Thượng, kết hợp tế lễ theo nghi thức nông nghiệp Bắc Bộ với lễ vật bánh chưng, bánh giầy, rước kiệu và tế nam quan, nữ quan.
Vì sao lễ hội Xa Mã đình Hoàng Châu lại diễn ra vào tháng 6 âm lịch thay vì mùa xuân?
Khác với cư dân nông nghiệp nhàn rỗi dịp đầu xuân, ngư dân miền biển Cát Hải bước vào thời kỳ nông nhàn vào tháng 6 âm lịch do biển động, gió Nam và gió Đông thổi mạnh cản trở việc ra khơi. Lễ hội từ ngày 9 đến 12 tháng 6 vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Ưng Thiên, vừa là dịp cầu mong sóng yên biển lặng.
Thành phố Hải Phòng hiện lưu giữ bao nhiêu di tích thờ Đức Thánh Đoàn Thượng?
Theo số liệu kiểm kê thực tế, Hải Phòng hiện có 141 di tích thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng trên địa bàn 10 quận huyện. Trong đó, huyện An Hải có 33 di tích, huyện Kiến Thụy có 22 di tích, huyện Tiên Lãng có 17 di tích, huyện Thủy Nguyên có 15 di tích và huyện Cát Hải có 13 di tích.
Đình Hoàng Châu hiện đang lưu giữ những hiện vật cổ tiêu biểu nào?
Đình Hoàng Châu bảo tồn quần thể di vật quý hiếm trên 289 năm tuổi gồm 1 đôi long mã nghệ thuật thế kỷ XVIII, 5 cỗ kiệu rước chạm khắc tinh xảo (2 cỗ kiệu thế kỷ XVII, 3 cỗ kiệu thế kỷ XVIII), 4 bộ ngai thờ, 2 chấp kích, 1 long đình cổ và 1 khám tượng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh bức tranh lịch sử và quy mô tín ngưỡng thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng với 141 di tích tại Hải Phòng và 13 cơ sở thờ tự tại Cát Hải.
- Giải mã thành công tính chất dung hợp văn hóa độc đáo giữa tín ngưỡng thờ thần biển nguyên thủy và văn hóa nông nghiệp lúa nước thể hiện qua 2 lễ hội Chèo thuyền và Xa Mã.
- Đánh giá toàn diện giá trị vật thể và phi vật thể của di tích đình Hoàng Châu với các hiện vật cổ chạm khắc nghệ thuật tồn tại bền vững trên 289 năm.
- Hoạch định lộ trình 4 giải pháp chiến lược đồng bộ từ trùng tu di tích, xây dựng 2 tour du lịch chuyên đề, đào tạo nhân lực đến số hóa dữ liệu di sản giai đoạn 2026 - 2030.
- Kêu gọi các cấp chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư chung tay bảo tồn, biến di sản văn hóa tâm linh Cát Hải thành điểm đến du lịch bền vững và giàu bản sắc.