chương 1 người nghiên cứu muốn tìm hiểu rõ hơn về tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ thần Đông Hải Đại Vương ở Việt Nam. Một số nét tổng quan về tín ngƣỡng Việt Nam 1. Khái niệm và phân loại tín ngưỡng Việt Nam 1. Khái niệm: Nằm trong bề dày của nền văn hóa vốn đã và đang tồn tại những sinh hoạt văn hóa cộng đồng bai gồm nhiều yếu tố tạo thành một hiện tượng văn hóa tổng thể.
Trong đó yếu tố tín ngưỡng chiếm phần lớn. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam rất phong phú và có nguồn gốc khá phức tạp. Từ đó, có nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau và song song với nó là các quan niệm khác nhau. Theo Giáo Sư Tiến Sĩ Ngô Đức Thịnh, “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng, đối lập với cái trần tục, hiện hữu mà ta có thể sờ mó quan sát được.
Có nhiều loại niềm tin nhưng ở đây là niềm tin tín ngưỡng, tức là niềm tin vào cái thiêng” [7,tr. Theo Lê Như Hoa, Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, (NXB Văn Hóa Thông Tin, H, 2001, [4,tr.23]) : “Tín ngưỡng dân gian là những hình thái tôn giáo sơ khai, chúng 9 được hình thành trên cơ sở những tâm cách nguyên thủy để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỹ xảo của thuyết hồn linh”. Bên cạnh đó Giáo Sư Tiến Sĩ Ngô Đức Thịnh có quan niệm “đó là một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần con người mà ở đó con người cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, lực lượng siêu nhiên, mà những cái đó chi phối, khống chế con người, nó nằm ngoài giới hạn hiểu biết của con người hiện tại; sự tồn tại của các phương tiện biểu trưng giúp con người thông quan với các thực thể, các sức mạnh siêu nhiên đó; đó là chất kết dính tập hợp con người thành một cộng đồng nhất định và phân định với cộng đồng khác. Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ”.
Mỗi một nhà nghiên cứu hay một cơ quan tổ chức về lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng đều có thể đưa ra các khái niệm và quan niệm về tín ngưỡng khác nhau. Tổ chức UNESCO cũng đưa ra quan niệm về văn hóa trong đó có nhắc đến như sau: “nếu chúng ta hiểu văn hóa là hệ thống các biểu tượng, từ đó quy định những ứng xử của cá nhân và toàn thể cộng đồng, tạo nên sự thống nhất của cộng đồng cũng như sự khác biệt giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, thì tôn giáo tín ngưỡng cũng chính là văn hóa và là một bộ phận của văn hóa”. Phân loại tín ngưỡng Việt Nam Đời sống tâm linh con người được tạo nên bởi niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần – tư tưởng, đời sống tình cảm… Cũng theo hoàn cảnh và theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, địa phương mà hình thành nên các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Có những tín ngưỡng đã được hình thành từ môi trường sống của con người như tín ngưỡng phồn thực, được bắt nguồn từ nhu cầu thiết yếu của con người và đối với nông nghiệp lại càng bội phần hệ trọng để duy trì cuộc sống, mùa màng tươi tốt.
Hay tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, được hình thành từ môi trường sống gắn bó với thiên nhiên, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên hình thành nên tín ngưỡng đa thần. Hình ảnh Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch, Thổ Công, Hà Bá…nhiều nơi còn gọi là Bà Đất, Bà Nước, Bà Trời; ba Bà này còn được thờ chung tạo thành tín ngưỡng Tam Phủ cai quản ba vùng trời - đất - nước gắn với hình ảnh của Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải. Với cư dân nông nghiệp lúa nước 10 các vị thần cai quản các hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng do đó trong cuộc sống của họ đã nhào nặn thành hệ thống thần Tứ Pháp, hình tượng Động thực vật như chim, rắn, cá… Bên cạnh đó theo quan niệm người chết là về với tổ tiên đã hình thành lên trong đời sống tâm linh người Việt Nam với tín ngưỡng sùng bái con người, thờ gia tiên, thờ Thổ Công trong gia đình. Theo Trần Quốc Vượng trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục,[11, tr.
142]: “trong phạm vi thôn xã, quan trọng nhất là việc thờ thần làng (Thành Hoàng). Cũng như Thổ Công trong một nhà, Thành Hoàng là vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó… Không làng nào là không có Thành Hoàng…trong nước, người Việt Nam thờ Vua Tổ - vua Hùng; thờ Tứ bất tử, thánh Tản Viên và Thánh Gióng”. Theo Tiến Sĩ Trần Diễm Thúy trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Thông Tin, đưa ra một số tín ngưỡng dân gian Việt Nam như: tín ngưỡng thờ Tổ Tiên, tín ngưỡng thờ Thổ Công - Thần Tài – Ông Táo, Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng Thờ Mẫu, thờ Quan Công, thờ Tự Nhiên và tín ngưỡng Phồn thực. “Ngoài những tín ngưỡng tiêu biểu trong dân gian người Việt đã trình bày ở trên thì đời sống văn hóa của cư dân Việt còn có một số tín ngưỡng đặc biệt khác, ví dụ: tôn thờ đá, tôn thờ cây, tôn thờ các vị thần thánh khác (như Tứ bất Tử gồm Tản Viên – Thánh Gióng – Chử Đồng Tử - Liễu Hạnh)”[8, tr.
Trong mục bàn về Phong tục tế lễ, trích trong Một số phong tục nghi lễ dân gian truyền thống Việt Nam của Quảng Tuệ, Nxb Thanh Hóa, đã nói đến các phong tục tín ngưỡng dân gian Việt Nam có thờ Thần Thành Hoàng, thờ Chư Vị, thờ Thánh Hiền, thờ Tổ, “trong một số nhà có tục thờ các vị gọi là tạp thờ, đó là Táo Quân, Thổ Thần, Thần Ngũ Tự và Thần Tài” [9, tr. Giáo Sư Ngô Đức Thịnh “đồng tình với cách phân loại tín ngưỡng theo hình thái học và đưa ra cách phân loại tín ngưỡng của các tộc người ở nước ta, coi đó không phải là mục tiêu học thuật của mình, mà chỉ là phương tiện thuận lợi hơn cả để trình bày các hình thức tín ngưỡng mà thôi” (Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [7,tr. Theo đó ông chỉ ra các hình thức tín ngưỡng sau: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ( gia tộc, dòng họ, quốc gia), Tôtem giáo Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng Tín ngưỡng vòng đời người: 11 - Nghi lễ sinh đẻ (thờ Bà Mụ) - Nghi lễ cưới xin (thờ Ông Tơ, Bà Nguyệt) - Thờ thần bản mệnh - Tang ma và thờ cúng người chết Tín ngưỡng nghề nghiệp: - Tín ngưỡng nông nghiệp (Nghi lễ Phồn thực, Tứ pháp, Thần Nông…) - Thờ Thánh Sư (tổ nghề Thủ công) - Thờ thần tài (nghề buôn) - Các tín ngưỡng của ngư dân (thờ Cá Ông, thờ Cô bác…) Tín ngưỡng thờ thần (đạo thờ thần): - Đạo Mẫu - Đức Thánh Trần - Tứ Bất Tử - Thờ các anh hùng dân tộc Cũng như nhiều lĩnh vực khoa học khác, có nhiều ý kiến khác nhau nên sẽ hình thành nhiều cách phân loại khác nhau, trên đây là một số cách phân loại của một số nhà nghiên cứu. Đặc trưng của tín ngưỡng Việt Nam Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng.
Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.
Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo. Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa. Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần 12 đông trong số đókhông là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào. Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầu xin. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt là tính dụng.
Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống. Mỗi tín ngưỡng lại có những đặc trưng riêng theo sắc thái và môi trường xã hội. Tuy nhiên các tín ngưỡng đã phát triển không bao giờ chỉ có các lễ nghi thuần túy. Nghĩa là tín ngưỡng không chỉ biểu đạt bằng các nghi lễ thờ cúng, vật dâng cúng mà còn có lễ hội, còn có các “công cụ” hay “biểu tượng” coi đó như là một thứ ngôn ngữ biểu đạt.
Ví như những ngôi đình, mái đền, pho tượng thần linh…đó là những đặc trung vốn có, và luôn tồn tại của tín ngưỡng. Tín ngưỡng không thể thiếu các câu chuyện, truyền thuyết, huyền thoại, thần tích, thần phả…để mô tả nguồn gốc, hình trạng, “đời sống” của các thần linh; cũng đôi khi lại là những áng văn vần, thơ ca dân gian như “ Mo đẻ đất, đẻ nước”, “Mo lên trời” đã nảy sinh trong tín ngưỡng tâm linh của người Mường với các nghi lễ tang ma. Vai trò giá trị của tín ngưỡng trong văn hóa dân tộc Nói đến văn hóa dân tộc là chúng ta nói đến một nền văn hóa đậm đà bản sắc. xuất phát từ gốc văn hóa bản địa là văn hóa gốc nông nghiệp – văn hóa Đông Nam Á.