Chương 1. Khái quát TTCN ở Thái Nguyên trước năm 1986 Chương 2. Hoạt động của ngành tiểu thủ công nghiệp ở Thái Nguyên giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012 Chương 3. Nhận xét, đánh giá về hoạt động của ngành tiểu thủ công nghiệp ở Thái Nguyên giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012 6 c Chƣơng 1 KHÁI QUÁT TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1986 1.
Một vài khái niệm về TTCN Thuật ngữ “ Tiểu thủ công nghiệp” thực sự xuất hiện kể từ sau khi CNTB ra đời, tuy nhiên ở mỗi quốc gia lại có những cách hiểu và định nghĩa riêng về TTCN. Theo các nhà Kinh tế học Liên Xô cũ thì : “thủ công nghiệp là sản xuất thủ công sử dụng lao động thô sơ chế biến nguyên liệu thành sản phẩm”. Trong giai đoạn này ở Liên Xô người ta dùng thuật ngữ thủ công nghiệp để chỉ những cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, ở một số nước như : Anh, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ người ta không dùng thuật ngữ “Thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “Tiểu công nghiệp” để chỉ sản xuất Tiểu công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng máy móc hoặc dùng ở mức độ thấp.
Ở Nhật Bản năm 1957 có quy định: các xí nghiệp sử dụng dưới 300 công nhân, mước vốn dưới 10 triệu yên, được thừa nhận hợp pháp là “tiểu công nghiệp”, được hưởng những chính sách tài trợ về tiểu công nghiệp. Ở Mỹ có quy định: dưới 250 công nhân được xem là "tiểu công nghiệp", và tiểu công nghiệp còn được phân biệt theo bộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước Trong ngành chế tạo vẫn lấy số lượng công nhân làm cơ sở, nhưng ngành dịch vụ chủ yếu lấy số bán ra hay số thu hàng năm làm tiêu chuẩn. Còn ở Ấn Độ nếu như trước năm 1960 người ta quy định là dưới 100 công nhân nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sử dụng năng lượng, thì được gọi là tiểu công nghiêp. Tuy nhiên, đến năm 1960 quy định chủ yếu căn cứ vàomức vốn “không quá 500.00 rupi hay 1triệu rupi trong một số trường hợp đặc biệt” [25, tr.
7 c Như vậy ta có thể thấy ở hầu hết các nước đều lấy chỉ tiêu về vốn, số lượng công nhân để xác định thuộc Tiểu công nghiệp. Do ở mỗi nước lại có tiêu chuẩn riêng để định nghĩa thuật ngữ tiểu công nghiệp nên năm 1962 Uỷ ban kinh tế châu Á – Viễn Đông đã đưa ra định nghĩa để chuẩn hoá các thuật ngữ được sử dụng, theo đó “Tiểu kỹ nghệ là các xí nghiệp kỹ nghệ sử dụng không quá 50 công nhân trường hợp xưỏng cơ khí không có máy móc hoặc không quá 20 công nhân trong trường hợp xưởng cơ khí sử dụng máy móc ứng với một công suất dưới 50 mã lực” [25,tr. Ở nước ta, thuật ngữ “Tiểu công nghiệp-Thủ công nghiệp” lần đầu tiên được nhắc đến trong Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam năm 1951, tuy nhiên ở đây không có sự phân định rõ ràng giữa Thủ công nghiệp và Tiểu công nghiệp, thông thường hai khái niệm nay được lồng ghép vào nhau như một thuật ngữ không tách biệt. Trong cuốn “Sơ thảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam” Phan Gia Bền đã cho rằng “ Thủ công nghiệp là từ nông nghiệp mà ra và có thể nói, thủ công nghiệp là nền sản xuất trung gian giữa nông nghiệp và công nghiệp.trung gian nên nó mang nặng tín chất nông nghiệp mà đồng thời cũng đã có nhiều tính chất công nghiệp”.
“Phạm vi thủ công nghiệp đi từ những nghề phụ nông thôn, đến các nghề thủ công cá thể tiểu sản xuất hàng hóa rồi đến hình thức còn nhiều quan hệ với nông nghiệp đến hình thức quá độ sang công nghiệp [3, tr.17- Vũ Huy Phúc cho rằng TTCN thời cận đại là “ toàn bộ nền sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống hoặc mới du nhập do người Việt Nam tiến hành ở nông thôn, ở các làng chuyên nghề và các đô thị, thị trấn, không loại trừ một bộ phận sản xuất của tư sản công nghiệp nhỏ dân tộc” [18, trg. Dựa trên những hiểu biết của m.0ình Phạm Quốc Sử cho rằng “tiểu – thủ công nghiệp là thuật ngữ kép, trên cơ sở ghép nối hai thuật ngữ “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” để chỉ những hoạt động công nghệ, không có 8 c hoặc ít có tính chất công nghiệp hiện đại. cho đến cuối những năm 1990, TTCN là bộ phận chủ yếu của lĩnh vực công nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta” [24]. Dựa trên những quan niệm về tiểu – thủ công nghiệp ở trong nước và trên thế giới ta có thể hiểu Tiểu-thủ công nghiệp là thuật ngữ dùng chỉ các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, ngoài quốc doanh, lấy sản xuất bằng tay là chủ yếu và sử dụng một phần nhỏ máy móc.
Chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến hành sản xuất ở nông thôn, ở các làng nghề, thị trấn, thị tứ và đô thị. Những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển TTCN ở tỉnh Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lí: Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du - miền núi Đông Bắc; diện tích tự nhiên 3.541,67 km2; nằm trong hệ tọa độ địa lý từ 21019’ đến 22003’ vĩ độ Bắc và 105029’ đến 106015’ kinh độ Đông, từ Bắc đến Nam dài 43 phút vĩ độ (80km), từ Tây sang Đông rộng 46 phút kinh độ (85km). Điểm cực Bắc ở vĩ độ 22003’thuộc xã Lình Thông, huyện Định Hóa; điểm cực Nam ở vĩ độ 21019’ thuộc xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên; điểm cực Tây ở kinh độ 105028’ thuộc xã Yên Lãng, huyện Đại Từ; điểm cực Đông ở kinh độ 106014’ thuộc xã Phượng Giao, huyện Võ Nhai.
Thái Nguyên phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía nam giáp thủ đô Hà Nội, phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang. Thái Nguyên là miền đất nối giữa vùng núi rừng Việt Bắc với đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Thăng Long, Đông Đô xưa và Thủ đô Hà Nội ngày nay. Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã xác định vị trí chiến lược của Thái Nguyên trong sách Dư địa chí: “Đấy là nơi phên giậu thứ hai về phương Bắc vậy”. Ngày nay, Thái Nguyên được xác định là trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng trung du và Đông Bắc Bắc Bộ, Tại đây có nhiều cơ sở kinh tế, văn 9 c hóa, quốc phòng có tầm chiến lược của đất nước: khu công nghiệp gang thép, khu công nghiệp Sông Công, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Bộ Tư lệnh Quân khu I.
Quốc lộ số 3 nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, với các tỉnh khác trong nước, đồng thời chạy qua huyện Phú Lương lên Bắc Cạn, Cao Bằng để có thể tới biên giới Việt - Trung. Ngoài ra các quốc lộ 37, 1B, 279 cùng với hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh. Tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều và tuyến đường sắt Thái Nguyên - Uông Bí là mạch giao thông quan trọng giữa Thái Nguyên với vùng đồng bằng và vùng Đông Bắc [28]. Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là một trung tâm kinh tế, trung tâm văn hóa, trung tâm đào tạo lớn nhất của cả nước.
Vị trí địa lý của Thái Nguyên đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi mà nhiều tỉnh miền núi phía Bắc không có, giúp cho Thái Nguyên có tiềm năng phát triển các hoạt động tiểu thủ công nghiệp. - Địa hình: Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng Bắc - Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bao quanh phía Tây Nam và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.591m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Cạn chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Võ Nhai. Dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi hình cánh cung che chắn cho Thái Nguyên nên nơi đây ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, bão lũ, rất thuận lợi cho việc phát triển các vùng nguyên liệu sản xuất TTCN như: vùng nguyên liệu sản xuất chè búp khô, trồng và khai thác lâm sản phục cho các ngành chế biến gỗ, mây tre đan…. 10 c - Khí hậu: Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng đồi núi có nhiều kiểu địa hình khác nhau, từ đồng bằng đến các vùng đồi (300 - 600m) và các đồi núi thấp xen kẽ (600 - 1300m).
Địa điểm phức tạp này của địa hình tác động nhiều đến sự phân hóa khí hậu. Một đặc điểm quan trọng của chế độ khí hậu Thái Nguyên là tính chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Biên độ dao động ngày và đêm của nhiệt độ lớn hơn đồng bằng Bắc Bộ, trung bình chênh lệch khoảng 0,5-10C. Chế độ mưa ở Thái Nguyên thường lớn hơn ở đồng bằng, gió yếu hơn ở đồng bằng [28].
Đây là một trong những thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các cây công nghiệp, nông nghiệp và phát triển kinh tế rừng, tạo nên nguồn nguyên liệu phong phú cho hoạt động sản xuất TTCN. - Tài nguyên thiên nhiên + Tài nguyên đất. Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 354. Trong đó, đất núi chiếm 43,83% diện tích tự nhiên, đất đồi chiếm 24,57% diện tích đất tự nhiên, đất ruộng chiếm 12,11 diện tích đất tự nhiên, ngoài ra còn có 53.533,60 ha đất chưa sử dụng (chiếm 15,11% diện tích đất tự nhiên) có thể phát triển lâm nghiệp.
Dự theo hệ thống phân loại của V. Fridlan thì Thái nguyên gồm có các loại đất chính sau: + Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi thấp: Đất này chiếm 48,1% diện tích đất tự nhiên, thường phân bố ở độ cao trên 200m. Đất được hình thành do sự phong hóa từ các đá mácma, đá biến chất và đá trầm tích. Đất này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ… + Đất Feralit điển hình vùng đồi và núi thấp: Đất này chiếm 31,1% diện tích tự nhiên, chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết, phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo.
Đây là vùng đất được sử dụng xen kẽ giữa nông và lâm nghiệp.