Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƢ TRÚ 1. Quan niệm về cƣ trú và pháp luật về cƣ trú 1. Quan niệm về cư trú Đăng ký và quản lý cư trú có vị trí hết sức quan trọng và có tác dụng to lớn đối với quản lý xã hội của nhà nước. Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công tác quản lý cư trú là nhằm xác định việc cư trú và những thông tin cơ bản nhất về nhân thân của công dân để phục vụ, thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời phục vụ cho công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Quản lý xã hội thực chất là quản lý con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Con người luôn luôn là chủ thể của mọi hoạt động xã hội và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì vậy quản lý cư trú được hình thành, phát triển rất lâu và nó diễn ra hầu như ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Từ đó cho thấy quản lý cư trú là một tất yếu khách quan vì trong xã hội có giai cấp, phải có quản lý xã hội, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phải quản lý con người, mà trước hết là qua hoạt động cư trú. Vì thế có thể khẳng định: Trên thế giới vấn đề quản lý cư trú của con người đã có từ rất lâu, do bản chất của từng nhà nước khác nhau mà mục đích, hình thức, biện pháp quản lý cư trú khác nhau.
Luật cư trú ở Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã làm rõ các khái niệm về cư trú, đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc phường, xã, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú” (Điều 1) “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ” 9 (Điều 18) “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ”. (Điều 30)[40] Đăng ký, quản lý hộ khẩu là quá trình cơ quan Công an dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định. Phục vụ cho công tác quản lý xã hội của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm pháp về an ninh, trật tự.
Như vậy, quản lý cư trú công dân có thể hiểu khái quát là quản lý việc thường trú, tạm trú, tạm vắng của công dân. - Quản lý thường trú là việc đăng ký ghi nhận vào sổ hộ khẩu và áp dụng các biện pháp để quản lý đối với những người thường xuyên cư trú trên một địa bàn nhất định theo đơn vị hành chính. - Quản lý tạm trú là quản lý những người thường trú ở một nơi nhưng do nhiều lý do khác nhau họ đến ở lại một địa phương khác trong thời gian nhất định. - Quản lý tạm vắng là quản lý đối với những người thường trú của địa phương theo quy định của pháp luật khi đi ra khỏi địa phương của mình phải khai báo tạm vắng.
Như vậy, có thể hiểu: Cư trú là việc công dân sinh sống thường xuyên tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn hoặc huyện đảo nơi chưa tổ chức đơn vị hành chính cấp xã được nhà nước quản lý thông qua hình thức đăng ký thường trú hoặc tạm trú. Nguyên tắc về cư trú Theo Điều 4 Luật cư trú số 81/2006/QH11 Quy định về nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Bảo đảm hài hoà quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội; kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch, không gây phiền hà; việc quản lý cư trú phải bảo đảm hiệu quả. Mọi thay đổi về cư trú phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại một nơi". Pháp luật về cư trú Quan điểm của học thuyết Mác-Lê nin về nhà nước và pháp luật đã giải thích một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật về những mối quan hệ của nó với các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp. Pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp.
Pháp luật vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Mức độ đậm, nhạt của hai tính giai cấp và xã hội của pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị của mỗi nước ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật và Nhà nước là hai thành tố của thượng tầng chính trị - pháp lý, luôn có mối quan hệ khăng khít không thể 11 tách rời nhau.
Cả hai hiện tượng pháp luật và nhà nước đều có chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực chính trị có thể được triển khai và phát huy có hiệu quả trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm, và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và đảm bảo cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội. Từ cơ sở lý luận trên, có thể hiểu: pháp luật về cư trú là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quá trình cư trú của cơ quan, tổ chức, cá nhân và việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động cư trú của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan niệm thực hiện pháp luật về cƣ trú 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật về cư trú 1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật về cư trú * Thực hiện pháp luật Xây dựng được hệ thống pháp luật tốt là tiền đề, là yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng điều quan trọng hơn và có ý nghĩa quyết định là hệ thống pháp luật đó có được thực hiện không và được thực hiện như thế nào. Pháp luật dù có tốt như thế nào chăng nữa, nhưng nếu không được thực hiện thì cũng chỉ nằm trên giấy.
Thực hiện pháp luật là hành vi xử sự (hành động hay không hành động), theo yêu cầu của pháp luật, của các chủ thể trong xã hội. Hành vi xử sự này có thể là hành động đơn giản (không khai báo khi thay đổi nơi cư trú…), có khi là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động phức tạp (tổ chức thực hiện Nghị định về lập lại trật tự an toàn giao thông….) 12 Do tính đa dạng, phong phú của quy phạm pháp luật và tính chất khác nhau của hoạt động thực hiện pháp luật, nên cũng có nhiều hình thức thực hiện pháp luật khác nhau. Tuy vậy, dù thực hiện pháp luật dưới hình thức nào, tính chất thực hiện khác nhau như thế nào chăng nữa, tất cả mọi hoạt động thực hiện pháp luật đều có chung mục đích là bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trên thực tế, trở thành hiện thực trong cuộc sống. Như vậy, thực hiện pháp luật là quá trình thành viên trong xã hội thực hiện các hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật dưới những hình thức và tính chất thực hiện khác nhau, nhưng cùng nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, tăng cường pháp chế trong đời sống, trong nhà nước và xã hội.
* Thực hiện pháp luật về cƣ trú Xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật; đồng thời thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước pháp quyền. Thực hiện pháp luật được hiểu là bằng phương pháp phù hợp biến pháp luật từ quy định đi vào đời sống xã hội thông qua tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng của các chủ thể. Thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp. Đó là quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất thực hiện từng văn bản pháp luật) đảm bảo sẵn sàng phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành vi ứng xử của các chủ thể đều phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
Như vậy, thực hiện pháp luật về cư trú được hiểu là đưa pháp luật về cư trú vào thực tiễn, đền gần với người trực tiếp làm công tác giải quyết các vấn đề liên quan đến cư trú bao gồm cán bộ, công chức có liên quan và đặc 13 biệt là người dân, bởi họ là chủ thể thực hiện pháp luật về cư trú, hơn ai hết họ là những người phải biết được khung pháp lý để từ đó thực hiện đảm bảo, tránh ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bản thân mình và gây cản trở hoạt động của các cơ quan nhà nước.