Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật: thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Nghiên cứu chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Đắk Lắk. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn phát triển nguồn nhân lực KH CN tại Đắk Lắk

Luận văn thạc sĩ về việc thực hiện chính sách phát triển Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Tỉnh Đắk Lắk đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh Kinh tế tri thức. Tài liệu nghiên cứu của tác giả Phan Minh Hải (2019) khẳng định nhân lực S&T là tài nguyên vô giá. Đây là lực lượng đi đầu trong việc tiếp thu và phổ biến tri thức khoa học vào đời sống. Việc thực hiện Chính sách công hiệu quả giúp rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các khu vực khác. Đắk Lắk cần một lộ trình bài bản để tối ưu hóa tiềm năng của Đội ngũ trí thức địa phương. Nội dung nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh từ hoạch định đến thực thi chính sách thực tế.

1.1 Vai trò của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong kinh tế tri thức

Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định chiến lược phát triển. Họ đảm nhiệm vai trò nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng công nghệ mới. Theo Nghị quyết số 20-NQ/TW, đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng để chuyển dịch sang Kinh tế tri thức. Tại Tỉnh Đắk Lắk, lực lượng này đóng góp trực tiếp vào việc xây dựng luận cứ khoa học cho các chính sách phát triển kinh tế địa phương. Sự phát triển của Đội ngũ trí thức giúp nâng cao năng suất lao động và giá trị cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su.

1.2 Mục tiêu chính sách công về phát triển nhân lực tại Đắk Lắk

Mục tiêu cốt lõi của Chính sách công tại Đắk Lắk là hình thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao, tâm huyết và tận tụy. Tỉnh phấn đấu đạt tỷ lệ cán bộ nghiên cứu phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Chính sách tập trung vào việc phát triển các tổ chức KH&CN mạnh và các nhà khoa học đầu ngành. Việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng giúp tạo khung pháp lý vững chắc cho hoạt động Quản lý nhà nước về KH&CN. Điều này đảm bảo nguồn nhân lực phát triển đồng bộ cả về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

II. Thách thức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao

Dù đã đạt được những kết quả nhất định, việc thực hiện chính sách tại Tỉnh Đắk Lắk vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (Pii) cho thấy sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư cho khoa học. Các bất cập trong Chính sách công khiến việc thu hút nhân tài gặp khó khăn. Điều kiện làm việc và trang thiết bị tại nhiều tổ chức KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Tình trạng thiếu hụt cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao đang là vấn đề cấp bách. Những thách thức này đòi hỏi sự thay đổi quyết liệt trong phương thức quản lý và đãi ngộ.

2.1 Hạn chế trong quản lý nhà nước về KH CN tại địa phương

Công tác Quản lý nhà nước về KH&CN tại Đắk Lắk đôi khi còn lúng túng trong việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống văn bản hướng dẫn còn chung chung, chưa sát với đặc thù vùng miền. Việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách chưa được tiến hành thường xuyên và chặt chẽ. Điều này dẫn đến tính thiếu thống nhất trong việc áp dụng các quy định về tuyển dụng và sử dụng cán bộ. Năng lực thực thi của một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn hệ thống.

2.2 Bất cập về chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài hiện nay

Chính sách Đãi ngộ và thu hút nhân tài tại tỉnh chưa đủ sức hấp dẫn để giữ chân những chuyên gia giỏi. Mức lương và phụ cấp đặc thù cho viên chức khoa học còn thấp so với các ngành khác. Môi trường làm việc khoa học thiếu sự đầu tư về hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Nhiều nhà khoa học tâm huyết không có đủ nguồn lực để triển khai các dự án Nghiên cứu và phát triển (R&D) quy mô lớn. Tình trạng "chảy máu chất xám" sang các thành phố lớn diễn ra thường xuyên do thiếu các cam kết hỗ trợ dài hạn về đời sống và sự nghiệp.

III. Cách quy hoạch và tuyển dụng đội ngũ trí thức Đắk Lắk hiệu quả

Để tối ưu hóa Phát triển nhân lực chất lượng cao, Đắk Lắk cần thực hiện quy hoạch gắn liền với thực tiễn phát triển ngành. Việc xây dựng lộ trình tuyển dụng dựa trên tiêu chuẩn vị trí việc làm là yêu cầu bắt buộc. Các cơ quan chức năng cần dự báo chính xác nhu cầu nhân lực trong từng giai đoạn. Tuyển dụng phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và khách quan. Tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Đây là bước đi chiến lược để xây dựng Đội ngũ trí thức vững mạnh cho tỉnh.

3.1 Phương pháp quy hoạch nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

Quy hoạch Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phải đi đôi với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Cần xác định rõ cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo cần thiết cho tương lai. Việc quy hoạch phải dựa trên các chỉ số thực tế về Chuyển dịch cơ cấu lao động. Đắk Lắk cần hình thành mạng lưới các tổ chức KH&CN phân bổ hợp lý theo địa bàn. Công tác quy hoạch cũng cần tính đến việc huy động các nguồn lực xã hội hóa để đa dạng hóa hình thức đào tạo. Đây là tiền đề để chuẩn bị nguồn lực sẵn sàng cho quá trình công nghiệp hóa địa phương.

3.2 Quy trình tuyển dụng nhân lực chất lượng cao theo vị trí việc làm

Quy trình tuyển dụng cần đổi mới theo hướng đánh giá thực chất năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hành. Việc xây dựng bản mô tả công việc chi tiết cho từng vị trí giúp lựa chọn đúng người, đúng việc. Tỉnh Đắk Lắk cần áp dụng các hình thức sát hạch hiện đại, ưu tiên những ứng viên có kinh nghiệm Nghiên cứu và phát triển (R&D). Chính sách tuyển dụng cũng nên linh hoạt để thu hút trí thức là người dân tộc thiểu số tại chỗ. Đảm bảo mọi cá nhân có năng lực đều có cơ hội đóng góp cho sự nghiệp khoa học của tỉnh nhà.

IV. Bí quyết đào tạo và bồi dưỡng cán bộ KH CN tỉnh Đắk Lắk

Công tác Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng nhân lực. Đắk Lắk cần chú trọng cả đào tạo chuyên môn sâu và kỹ năng quản lý hiện đại. Việc liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học lớn là hướng đi cần thiết. Cần tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các khóa học ngắn hạn tại nước ngoài. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai bền vững của khoa học tỉnh nhà. Đào tạo phải gắn liền với thực hành và giải quyết các bài toán cụ thể của địa phương. Điều này giúp đội ngũ nhân lực nhanh chóng làm chủ công nghệ mới.

4.1 Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển R D trong doanh nghiệp

Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đầu tư vào hoạt động Nghiên cứu và phát triển (R&D). Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính và thuế cho các đơn vị có sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Việc kết hợp giữa nhà khoa học và doanh nghiệp giúp thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Tỉnh Đắk Lắk nên xây dựng các khu vườn ươm công nghệ để hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Đội ngũ nhân lực làm việc tại doanh nghiệp cần được bồi dưỡng thường xuyên về kỹ năng quản trị công nghệ. Điều này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm đặc thù của tỉnh.

4.2 Xây dựng môi trường làm việc khoa học chuyên nghiệp

Một Môi trường làm việc khoa học chuyên nghiệp là yếu tố quan trọng để giữ chân nhân tài. Cần thực hiện dân chủ, tôn trọng tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu và sáng tạo. Đầu tư nâng cấp trang thiết bị phòng thí nghiệm và thư viện số hiện đại. Tạo cơ chế để nhà khoa học được hưởng lợi ích xứng đáng từ giá trị lao động của mình. Sự minh bạch trong phân bổ kinh phí nghiên cứu giúp tạo động lực cho các nhà khoa học trẻ. Khi có môi trường tốt, Đội ngũ trí thức sẽ phát huy tối đa khả năng tư vấn, phản biện và cống hiến.

V. Kết quả thực thi chính sách và chỉ số đổi mới sáng tạo Pii

Kết quả thực hiện chính sách tại Đắk Lắk đã mang lại những chuyển biến tích cực cho nền kinh tế. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (Pii) của tỉnh đang dần được cải thiện qua các năm. Nhiều đề tài nghiên cứu đã được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Việc Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính giúp nâng cao tính minh bạch. Đội ngũ nhân lực KH&CN đã tham gia giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn về môi trường và an sinh xã hội. Những thành tựu này là minh chứng cho sự đúng đắn của các bước đi trong chính sách phát triển nhân lực.

5.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với ứng dụng công nghệ thông tin

Quá trình Chuyển dịch cơ cấu lao động tại Đắk Lắk diễn ra mạnh mẽ nhờ sự tác động của khoa học. Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp giảm dần, nhường chỗ cho công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao. Ứng dụng công nghệ thông tin đã len lỏi vào mọi lĩnh vực, từ quản lý nhà nước đến sản xuất nông hộ. Các phần mềm quản lý văn bản và chữ ký số được triển khai đồng bộ tại các cấp chính quyền. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ. Lao động trình độ cao ngày càng đóng vai trò chủ chốt trong các ngành kinh tế mới.

5.2 Tác động của chính sách đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đắk Lắk

Việc thực hiện chính sách phát triển Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đã thúc đẩy tăng trưởng GDP của tỉnh. Các dự án chuyển giao công nghệ ghép chồi cà phê và giống lúa mới đã nâng cao thu nhập cho nông dân. Hoạt động Quản lý nhà nước về KH&CN hiệu quả đã tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt động sáng tạo. Tỉnh đã thu hút được nhiều dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao nhờ nguồn nhân lực sẵn có. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt thông qua các ứng dụng khoa học vào y tế và giáo dục. Đắk Lắk đang khẳng định vị thế trung tâm vùng Tây Nguyên.

VI. Tương lai chính sách phát triển nhân lực KH CN tại Đắk Lắk

Tầm nhìn đến năm 2030, Đắk Lắk cần hoàn thiện hệ thống Chính sách công để phát triển nhân lực bền vững. Việc chú trọng vào chất lượng hơn số lượng là yêu cầu tất yếu. Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Quản lý nhà nước về KH&CN phải linh hoạt và thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ. Đầu tư cho nhân lực KH&CN chính là đầu tư cho sự đột phá của tỉnh trong tương lai. Đắk Lắk hướng tới mục tiêu trở thành điểm sáng về đổi mới sáng tạo tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

6.1 Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nhà nước về KH CN

Cần tiếp tục rà soát và sửa đổi các quy định không còn phù hợp trong Quản lý nhà nước về KH&CN. Xây dựng cơ chế đặc thù trong việc sử dụng ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học cấp thiết. Khung pháp lý cần rõ ràng về quyền sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích từ kết quả nghiên cứu. Việc đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra giúp ngăn ngừa các hành vi vi phạm trong hoạt động khoa học. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành trong việc thực thi chính sách. Một khung pháp lý hoàn thiện sẽ là bệ phóng cho Phát triển nhân lực chất lượng cao.

6.2 Định hướng phát triển nguồn nhân lực bền vững đến năm 2030

Định hướng tương lai tập trung vào việc xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Đắk Lắk sẽ ưu tiên đào tạo nhân lực cho Kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Tiếp tục thực hiện các chính sách Đãi ngộ và thu hút nhân tài một cách thiết thực hơn. Chú trọng đào tạo kỹ năng mềm và trình độ ngoại ngữ cho nhân lực khoa học để hội nhập quốc tế. Tỉnh cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà khoa học cống hiến tài năng. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một xã hội học tập và sáng tạo không ngừng tại Đắk Lắk.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách Thuật ngữ chính sách được hiểu là: “Chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” [7,tr. Ở đây, chính sách được hiểu là sự thể hiện cụ thể của chủ trương và các biện pháp của các tổ chức chính trị hoặc tổ chức Nhà nước (Chính phủ) trong các lĩnh vực chính trị - xã hội.

Bên cạnh cách hiểu theo trên, thuật ngữ chính sách còn có thể hiểu theo nghĩa rộng là: “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [5, t. Thuật ngữ này không chỉ bao hàm những chính sách, biện pháp cụ thể mà còn bao hàm các chủ trương lớn, đường lối hoặc phương hướng chiến lược của một quốc gia, thể hiện quan điểm, thái độ ứng xử trong quá trình xử lý các vấn đề trong nước và quốc tế. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ Theo UNESCO, nhân lực KH&CN là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ…”. Hoạt động KH&CN là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN.

Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và 7 bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN; điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng. Như vậy UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp mà theo công việc hiện đang đảm nhận. Nhân lực nghiên cứu và triển khai (R&D) theo các tài liệu của OECD liên quan đến thống kê KH&CN có định nghĩa: nhân lực R&D là tất cả những người được tuyển dụng cho hoạt động R&D, cũng như những cung cấp dịch vụ trực tiếp như các nhà quản lý R&D, cán bộ nhân viên hành chính và văn phòng (“Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển” – Tài liệu hướng dẫn FRASCATI 2002, OECD, tr104).

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo); Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. Từ những điều kiện trên, nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm: - Những người có bằng cấp trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ: giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sĩ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học… - Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, ví dụ: nhân viên lập trình máy tính, hoặc 8 cán bộ quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp. - Những người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển nhưng không đòi hỏi trình độ cao, ví dụ: thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, văn thư trong các cơ quan, trường đại học.

- Những người có trình độ, có bằng cấp làm việc trong các ngành KH&CN. Từ những phân tích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chọn nhân lực KH&CN hiểu theo định nghĩa của OECD, đó là “tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội” bởi vì định nghĩa này phù hợp với thực tế nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Đắk Lắk. Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN bao gồm: Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao, lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học, lực lượng tham gia sản xuất tạo ra sự phát triển sản xuất và xã hội. Cụ thể: - Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp: Với chức năng nghiên cứu sáng tạo, họ là những người có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên).

Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học. - Lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao: Là những người có trình độ từ đại học trở lên, làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trường (cao đẳng, đại học). Ngoài chuyên môn dạy học (nhà giáo chuyên nghiệp, các giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học), họ còn tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu khoa học. 9 - Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học: Bao gồm các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ quan quản lý từ các Bộ, ban, ngành, sở, viện nghiên cứu, các phòng - ban khoa học ở trường, học viện và các trung tâm dịch vụ KH&CN.

- Lực lượng tham gia nghiên cứu và sản xuất ở các doanh nghiệp: Bao gồm: các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ doanh nghiệp từ Trung ương đến các địa phương; lực lượng lao động sản xuất có trình độ tay nghề tạo ra hàng hoá cho xã hội. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực biểu hiện sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội. Phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô là các hoạt động của các tổ chức nhà nước mang tính quy mô (hệ thống giáo dục – đào tạo và các tổ chức kinh tế - xã hội nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng, chất lượng cao phù hợp và đáp ứng nhu cầu của mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội). Phát triển nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ đến giáo dục và đào tạo vì trình độ văn hóa của người lao động ảnh hưởng đến chất lượng phát triển nguồn nhân lực.

Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực KH&CN chỉ có thể được nâng cao khi được giáo dục – đào tạo tốt, bởi giáo dục – đào tạo là một mắc xích quan trọng của chu trình phát triển nguồn nhân lực. Nó tạo nên sự chuyển biến về chất (kiến thức kỹ năng và thái độ nghề nghiệp). Nhưng để có một nhân cách nghề nghiệp hoàn chỉnh phù hợp và thích ứng với vị trí việc làm, nguồn nhân lực còn phải được rèn luyện sức 10 khỏe và có văn hóa nghề nghiệp. Nhân lực KH&CN chỉ thực sự phát triển khi có những chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ phù hợp, tạo điều kiện để người lao động phát triển hài hòa cả thể chất lẫn tinh thần.

Phát triển nguồn nhân lực KH&CN được định nghĩa và hiểu theo các cách khác nhau tùy theo từng điều kiện cụ thể. Theo nghĩa rộng, phát triển nguồn nhân lực là tối đa hóa và khuyến khích sự dụng, phát huy tiềm lực con người phục vụ tiến bộ kinh tế và xã hội. Theo UNIDO (Tổ chức công nghiệp Liên Hiệp Quốc) thì: “Phát triển nhân lực KH&CN là sự phát triển con người một cách hệ thống như là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tế và công nghệ, trong đó đề cập đến sự nâng cao khả năng của con người, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích các chức năng lãnh đạo thông qua giáo dục, đào tạo và nghiên cứu”. Vậy phát triển nhân lực KH&CN là sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng nhân lực trong lĩnh vực KH&CN.

Cụ thể, đó là sự tăng lên về số lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong các Viện, trường Đại học; cán bộ kỹ thuật, công nghệ làm việc trong các doanh nghiệp; các cá nhân khác có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; cán bộ quản lý các cấp tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình; trí thức người Việt ở nước ngoài và các chuyên gia nước KH&CN theo hướng tiến bộ. Chính sách phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ Chính sách phát triển NNL KH&CN dưới góc độ khoa học chính sách công được hiểu là quan điểm, là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước về phát triển NNL KH&CN với mục tiêu, giải pháp cụ 11 thể nhằm hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ KH&CN có trình độ cao, tâm huyết, trung thực, tận tụy. Phát triển các tổ chức, tập thể KH&CN mạnh, các nhà khoa học đầu ngành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Chính sách phát triển NNL KH&CN là một bộ phận của chính sách phát triển Khoa học và Công nghệ nói chung, thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước nhằm định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển đội ngũ KH&CN, xây dựng chính sách đào tạo, khuyến khích, sử dụng, tổ chức triển khai đội ngũ phục vụ cho các mục tiêu phát triển KH&CN nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ