Luận văn: Quyền công tố và kiểm sát tội phạm ma túy tại Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ phân tích thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp về tội phạm ma túy tại Đà Nẵng, dựa trên số liệu thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

82
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp tại Đà Nẵng

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh tội phạm về ma túy đang gia tăng tại thành phố Đà Nẵng. Việc thực hiện quyền công tố không chỉ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật mà còn bảo vệ quyền lợi của người dân. Đà Nẵng, với vị trí địa lý và kinh tế đặc thù, đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác này. Số liệu thực tiễn cho thấy, tình hình tội phạm ma túy tại đây đang diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự chú ý và hành động kịp thời từ các cơ quan chức năng.

1.1. Khái niệm và vai trò của quyền công tố

Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Vai trò của quyền công tố không chỉ dừng lại ở việc khởi tố vụ án mà còn bao gồm việc giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, đảm bảo tính khách quan và công bằng trong xét xử.

1.2. Đặc điểm của tội phạm ma túy tại Đà Nẵng

Tội phạm về ma túy tại Đà Nẵng có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự gia tăng số lượng người nghiện và các loại ma túy mới xuất hiện. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

II. Thách thức trong thực hành quyền công tố đối với tội phạm ma túy

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm ma túy tại Đà Nẵng đang gặp nhiều thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ sự phức tạp của tội phạm mà còn từ những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành. Việc thiếu hụt nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.1. Những khó khăn trong việc thu thập chứng cứ

Việc thu thập chứng cứ trong các vụ án ma túy thường gặp khó khăn do tính chất phức tạp và tính chất bí mật của hoạt động tội phạm. Điều này làm giảm hiệu quả của công tác điều tra và truy tố.

2.2. Hạn chế trong quy định pháp luật

Một số quy định pháp luật hiện hành chưa đáp ứng kịp thời với thực tiễn tội phạm ma túy, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng và thực thi quyền công tố.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm ma túy, cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Việc cải cách quy định pháp luật, tăng cường đào tạo cho cán bộ kiểm sát và nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng là những giải pháp cần thiết.

3.1. Cải cách quy định pháp luật

Cần có những sửa đổi, bổ sung trong quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn tội phạm ma túy, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền công tố.

3.2. Tăng cường đào tạo cán bộ kiểm sát

Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ kiểm sát là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố, đặc biệt trong lĩnh vực tội phạm ma túy.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại Đà Nẵng đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả công tác này. Số liệu thực tiễn cho thấy, tỷ lệ truy tố thành công các vụ án ma túy còn thấp, điều này cần được cải thiện.

4.1. Kết quả thực hiện quyền công tố tại Đà Nẵng

Số liệu thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ truy tố thành công các vụ án ma túy tại Đà Nẵng chỉ đạt khoảng 60%, cho thấy cần có những biện pháp cải thiện.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn thực hành quyền công tố tại Đà Nẵng có thể được áp dụng cho các địa phương khác, nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm ma túy tại Đà Nẵng cần được cải thiện và nâng cao. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện quy định pháp luật và tăng cường năng lực cho cán bộ kiểm sát.

5.1. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật

Cần có những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm ma túy.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng

Việc tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm về ma tuý trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm về ma túy. Pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm ma túy tại địa bàn thành phố Đà Nẵng. Hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại Việt Nam.

7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP ĐỐI VỚI TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của Viện kiểm sát nhân dân Trải qua quá trình từ khi thành lập đến nay đã 55 năm, chức năng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tuy có sự thay đổi qua từng thời kỳ nhưng lịch sử đã ghi nhận và chứng minh, sự tồn tại của Viện kiểm sát nhân dân mang tính tất yếu khách quan, là thiết chế góp phần bảo vệ và duy trì pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền thông qua công tác phát hiện và xử lý các hành vi phạm tội, bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân, tổ chức, đảm bảo sự chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh của các cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản gồm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; tiếp nhận, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật; tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến. Năm 2002 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng về chức năng hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, cụ thể kể từ thời điểm Viện 8 kiểm sát chỉ có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa.

Tới nay, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014 gồm 06 chương, 101 điều [31] và được xác định là sửa đổi căn bản, toàn diện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm thể chế Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp. Theo đó, Viện Kiểm sát trong tố tụng hình sự có hai chức năng: Chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát tư pháp trong hoạt động tụng hình sự. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền công tố 1. Khái niệm “Quyền công tố” là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [40, tr.

Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Phạm vi quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Nghiên cứu về lịch sử nhà nước và pháp luật cho thấy, chế định công tố được hình thành dần cùng với sự hoàn thiện và phát triển của tố tụng hình sự. Lúc đầu, trong nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, người bị hại là người buộc tội và có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội của mình, nhưng do hoạt động của họ rất khó khăn, nên sau này việc truy cứu trách nhiệm hình sự được chuyển giao cho nhà nước, do các viên chức của nhà vua tiến hành [15].

Kể từ khi xuất hiện nhà nước và thứ quyền lực nhà nước hiện diện trong xã hội, nhà nước luôn có cách thức như là một phản xạ tự nhiên là tự vệ để duy trì sự tồn tại của mình và đảm bảo trật tự xã hội đó là xử lý những người có hành vi chống lại nhà nước lấy mục đích trấn áp kẻ vi phạm pháp luật bằng bạo lực với lý do họ vi phạm pháp luật gây phương hại trước hết đến sự tồn vong của một chế độ nào đó. Như một lẽ tự nhiên muốn 9 xử lý ai đó bắt buộc phải có sự buộc tội. Khi pháp luật, luận lý, đạo đức, dân luật, hình luật còn đang trong trạng thái hỗn mang chưa rành mạch thì việc buộc tội một người nào đó do tư nhân và nhà nước đảm nhiệm với thủ tục tố tụng không rườm rà và phức tạp. Thậm chí Luật La mã còn cho phép cá nhân có quyền tự xử lý hành vi vi phạm pháp luật bằng sức mạnh bạo lực (Bộ Degest, quyển 43, mục 16, trích đoạn 1, điều 27).

Việc buộc tội và xét xử nhiều khi không rõ ràng thể hiện ở việc ông vua chuyên chế, hay các quan chấp chính thời La mã vừa làm ra luật, vừa buộc tội vừa xét xử. Mặt khác, nhà nước ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội về mọi phương diện, luôn có trách nhiệm bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội loại này, nhất là những hành vi mà bị pháp luật coi là tội phạm. Ở Việt Nam, thiết chế công tố viện được người Pháp mang đến Việt nam trước 1945 và tồn tại ở miền Bắc đến năm 1958, ở Miền Nam trước 1975, cơ quan công tố nằm trong tòa án. Có lúc nó nằm trong Chính phủ (1958 – 1959) và mô hình VKS như hiện nay.

Cụm từ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiện trong các văn bản pháp lý là Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 138, và được nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981. Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố, nhất là từ khi nước ta tiến hành công cuộc cải cách tư pháp. Riêng về “quyền công tố” đã có tới tám quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm có cách thể hiện và lập luận riêng [16, tr.

Dưới đây là 04 nhóm quan điểm phổ biến nhất trong số đó: - Quan điểm 1: Công tố không phải là chức năng độc lập của viện kiểm sát mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự [21, tr. Quan hệ giữa thực hành quyền công tố 10 và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung. Quan niệm này phổ biến ở nước ta trước năm 1980 khi hiến pháp chưa có quy định về chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát và cũng xuất phát từ quan niệm phổ biến của các nhà tố tụng hình sự học Xô viết trước đây. - Quan điểm 2: Quyền công tố là quyền của viện kiểm sát thay mặt nhà nước bảo vệ lợi ích công (nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật.

Vì vậy, viện kiểm sát thực hành quyền công tố không chỉ trong tố tụng hình sự mà cả trong lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, kinh tế và các hoạt động tư pháp khác [38, tr. - Quan điểm 3: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó tại phiên tòa [36, tr. - Quan điểm 4: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho các cơ quan nhất định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa. Quan điểm này phổ biến trong các nhà nước có sự phân chia quyền lực [40, tr.

Nhưng các quan điểm này hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính; hoặc coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công; hoặc quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm. Từ đó có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp 11 các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước đều quan tâm trước hết đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu, ổn định tình hình xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị.

Khi một hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong quan hệ này, nhà nước là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực công để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội; còn người phạm tội là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài hình sự do nhà nước quy định và áp dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ