Quyền công tố và kiểm sát điều tra án gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên

Luận văn thạc sĩ phân tích quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Hưng Yên, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Đại học quốc gia hà nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố

1.1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra

1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

1.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng

1.2.1. Tội gây rối trật tự công cộng

1.2.2. Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng

1.3. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.3.1. Quan hệ phối hợp

1.3.2. Quan hệ chế ước

1.4. Khái quát lịch sử hình thành chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ở Việt Nam

2. Chương 2: PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN

2.1. Pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

2.2. Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng

2.2.1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội gây rối trật tự công cộng

2.2.2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

2.2.3. Một số hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng khác

2.3. Những tồn tại hạn chế trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

2.3.1. Những tồn tại, hạn chế

2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

3. Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

3.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng

3.2.1. Tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra

3.2.2. Nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

3.2.3. Nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát

3.2.4. Đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự tại Việt Nam. Đặc biệt, tại tỉnh Hưng Yên, tình hình an ninh trật tự đang gặp nhiều thách thức do sự gia tăng của các vụ án gây rối. Việc nghiên cứu và cải thiện hoạt động này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mà còn củng cố niềm tin của xã hội vào hệ thống pháp luật.

1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

Thực hành quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát trong việc đại diện cho Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Kiểm sát điều tra là hoạt động giám sát, đảm bảo việc điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

1.2. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra rất chặt chẽ. Thực hành quyền công tố không thể tách rời khỏi hoạt động kiểm sát điều tra, vì nó đảm bảo rằng các hoạt động điều tra được thực hiện một cách hợp pháp và hiệu quả.

II. Những thách thức trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra tại Hưng Yên

Tình hình thực tế tại tỉnh Hưng Yên cho thấy nhiều thách thức trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng. Những khó khăn này không chỉ đến từ sự phức tạp của các vụ án mà còn từ sự thiếu hụt về nguồn lực và kỹ năng của đội ngũ cán bộ.

2.1. Tình hình tội phạm gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên

Tình hình tội phạm gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên đang có xu hướng gia tăng, với nhiều vụ việc phức tạp, gây khó khăn cho công tác điều tra và xử lý.

2.2. Những khó khăn trong công tác thực hành quyền công tố

Việc thiếu hụt nguồn lực và kỹ năng của cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố đã ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này, dẫn đến việc xử lý các vụ án chưa đạt yêu cầu.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

Để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, cần áp dụng các phương pháp cải cách và đổi mới trong công tác quản lý và đào tạo cán bộ. Việc này sẽ giúp cải thiện chất lượng công tác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn.

3.1. Đổi mới phương thức đào tạo cán bộ

Cần thiết phải đổi mới phương thức đào tạo cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức chuyên môn.

3.2. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan

Tăng cường sự phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và các cơ quan liên quan sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc xử lý các vụ án gây rối trật tự công cộng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thực hành quyền công tố

Nghiên cứu về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng tại Hưng Yên đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác tư pháp tại địa phương.

4.1. Kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hành quyền công tố tại Hưng Yên đã có những bước tiến đáng kể, giúp nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn sẽ là cơ sở quan trọng để cải thiện và hoàn thiện hơn nữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của thực hành quyền công tố

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng cần được cải thiện hơn nữa. Hướng phát triển tương lai sẽ tập trung vào việc nâng cao chất lượng công tác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Định hướng phát triển trong tương lai sẽ tập trung vào việc cải cách và nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

5.2. Những giải pháp cần thực hiện

Cần thực hiện các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh hưng yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 1. Khái niệm thực hành quyền công tố * Quyền công tố Tại Việt Nam, thuật ngữ "quyền công tố" với tư cách là quyền năng của VKS lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980, sau đó là Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, BLTTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm 1981, Luật tổ chức VKSND năm 1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên 2011. Ngày nay, thuật ngữ này đã trở lên phổ biến hơn.

Tuy nhiên, trong khoa học luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố. Quan điểm thứ nhất: Đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố. Theo đó, "tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố" [15, tr.

Có nghĩa là ngay cả khi VKS kiến nghị, yêu cầu các cơ quan nhà nước khắc phục, sửa chữa những sai phạm của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội thì đó cũng là hoạt động THQCT. Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Quan điểm thứ hai: "Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho Viện kiểm sát nhân dân" [15, tr. Quan điểm này cho rằng 14 quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội và các ngành luật nó đã lan sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động.

Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát. Theo quan điểm này, quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Quan điểm này quá mở rộng dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác. Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền đại diện, nhân danh nhà nước thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa, tức là chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử.

Ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân [53, tr. Theo quan điểm này việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử. Theo tôi, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố; không những vậy, nó còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố, còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT bởi vì truy tố và buộc tội trước Tòa chỉ là một trong số các quyền năng cụ thể của hoạt động THQCT tại giai đoạn xét xử. Quan điểm thứ tư: "Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [53, tr.

Quan điểm này cho rằng quyền công tố chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự và chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (CQĐT, Tòa án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên 15 tắc truy cứu trách nhiệm hình sự rằng tội phạm phải bị truy cứu và bị trừng trị, đã nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử …). Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [39, tr. Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong tố tụng hình sự; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất VKS, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được.

Như vậy có thể thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố… Tác giả Lê Hữu Thể đã viết: Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố cần phải xem xét nó trong mối quan hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể, quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà từ đó cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền, không thể tách rời việc nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất đó (đó là tội phạm) tức lĩnh vực tố tụng hình sự [39, tr. 16 - Tháng 7/1967, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa ra kết luận rất quan trọng về quyền công tố và trách nhiệm của ngành kiểm sát: Công tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ nhà nước nào. Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố.

Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát nhân dân phải trông nom, đảm bảo tốt. - Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [9, tr. - Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729 ngày 14/3/2002) về dự án Luật Tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [44, tr. - Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân, quán triệt những nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng VKSND tối cao đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".

- Hiến pháp 2013 (Điều 107) và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp" [37, tr. Từ những dẫn chứng trên, tôi bày tỏ sự đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể, cũng chính là quan điểm thứ 5 đã nêu trên: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công 17 tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa [39, tr 40]. * Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Thời gian qua, vấn đề THQCT, phạm vi và nội dung của nó, mối quan hệ giữa chức năng THQCT với thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự còn ít được đề cập và chưa được rõ ràng.

Một số chuyên đề về nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp do VKSND tối cao tổ chức cũng chỉ đua ra một số biện pháp pháp lý, kiến nghị để nâng cao hiệu quả các công tác thực hiện chức năng như: KSĐT, kiểm sát xét xử, THQCT. Trong nội dung nghiên cứu của các chuyên đề này chưa phân biệt rành mạch hành vi tố tụng nào là THQCT, hành vi tố tụng nào là thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Cho đến nay, nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn của các cơ quan tư pháp còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT, giữa thẩm quyền của VKS và các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó. Vì vậy, nhiều người đã gặp vướng mắc và không lý giải được vấn đề khi một số cơ quan khác cũng khởi tố vụ án thì các cơ quan này có phải cũng THQCT hay không?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ