CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm xét xử và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Từ điển Tiếng Việt "Xét xử là việc xem xét và xử các vụ án" [20, tr.
Đây là một trong những hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án, các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử, chức năng này còn được gọi là chức năng bảo vệ pháp luật có mối quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, quyền của công dân. Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý cho rằng: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một pháp quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính. Như vậy, có thể hiểu xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT, VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bỏ lọt tội trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án. Dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện nay khái niệm xét xử sơ thẩm có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Từ điển Luật học giải thích: “xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [30, tr. Theo đó, phạm vi rộng xét xử sơ thẩm bao gồm các vụ án dân sự, hình sự, hành chính. 8 điểm quan trọng nhất ở đây là đã thể hiện được đặc trưng của xét xử sơ thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền” thực hiện, tuy nhiên, hạn chế là chưa phân định sự khác biệt và đặc trưng riêng của việc xét xử sơ thẩm các vụ án, trong đó có việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - một trong những hoạt động được coi là trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự, bởi lẽ nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tố tụng hình sự là “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, do đó, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn cứ cho hoạt động xét xử, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế [23, tr. Như vậy, có thể khái quát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên tòa, nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà VKS đã truy tố.
Từ phân tích trên, có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc trưng cơ bản như sau: i) là một giai đoạn tố tụng hình sự có tính chất bắt buộc; ii) là xét xử lần đầu vụ án, do đó vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ các người tham gia tố tụng; iii) có kết quả là một bản án, quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật; iv) góp phần vào việc xử lý triệt để và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó, giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết kéo dài vụ án, duy trì công lý, tạo công bằng trong xã hội, trấn an dư luận và bảo đảm quyền lợi của công dân, tổ chức và nhà nước. Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trên phương diện luật học, cách hiểu về giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tương đối rõ, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giả về vấn đề này được trình bày tại công trình [22, tr. Theo đó, có thể hiểu giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án 9 có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình. Thời điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do VKS chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Như vậy, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, trong đó bao gồm chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm. Chuẩn bị xét xử là tiền đề cần thiết, quan trọng cho việc mở phiên tòa và tiến hành phiên tòa, còn phiên tòa sơ thẩm là hình thức đặc trưng của giai đoạn này, là nơi thể hiện đậm nét nhất nội dung của các nguyên tắc tố tụng hình sự. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: "Chức năng là phương diện hoạt động có tính chất cơ bản, xuất phát từ bản chất của sự vật, hiện tượng, từ mục đích, ý nghĩa xã hội của việc giải quyết các nhiệm vụ đó đặt ra" [20, tr.
Theo đó có thể hiểu, chức năng của cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu có tính chất cơ bản và lâu dài của riêng cơ quan đó, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ việc thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 2013, Điều 109 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Trên cơ sở đó, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã làm rõ đặc trưng chức năng của VKSND thể hiện trên hai phương diện: i) “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [19]. Có thể khẳng định, VKS thực hành 10 quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, trong đó có chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; ii) “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [19].
Đây là một chức năng mang tính đặc thù của hệ thống cơ quan VKS ở Việt Nam, trong đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đối với việc giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn sơ thẩm. Như vậy, trên phương diện pháp luật thực định, chức năng thực hành quyền công tố (về bản chất là chức năng buộc tội của Nhà nước) được giao cho VKS các cấp thực hiện trong tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và thực hành công tố tại các phiên toà xét xử vụ án hình sự, trong giai đoạn này VKSND, KSV thay mặt nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là những hoạt động cụ thể của VKS từ khi Tòa án thụ lý xét xử cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố.