Luận văn: Thủ tục tố tụng hình sự với người chưa thành niên tại Hà Nội

Luận văn phân tích thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong bộ luật hình sự Việt Nam, dựa trên số liệu thực tiễn tại Hà Nội.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả

Lê Thị Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên

Thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên là một lĩnh vực quan trọng trong pháp luật Việt Nam. Đặc điểm tâm lý và sinh lý của người chưa thành niên yêu cầu có những quy định riêng biệt nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình tố tụng. Việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này không chỉ giúp đảm bảo công bằng mà còn góp phần vào việc giáo dục và cải tạo người chưa thành niên phạm tội.

1.1. Khái niệm thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên

Thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên được định nghĩa là các quy trình pháp lý áp dụng cho những cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Những quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi và bảo vệ người chưa thành niên trong các vụ án hình sự.

1.2. Mục đích của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên

Mục đích chính của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ, đồng thời tạo điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo. Điều này giúp người chưa thành niên nhận thức rõ hơn về hành vi của mình và giảm thiểu khả năng tái phạm.

II. Vấn đề và thách thức trong thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên

Mặc dù có những quy định riêng, nhưng thực tiễn cho thấy vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên. Các quy định hiện hành chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ, dẫn đến việc khó khăn trong việc thực thi và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên.

2.1. Những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành

Các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành chưa bao quát hết các tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn. Điều này dẫn đến việc người chưa thành niên có thể bị xử lý không công bằng trong một số trường hợp.

2.2. Thực trạng áp dụng thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

Thực trạng cho thấy nhiều vụ án liên quan đến người chưa thành niên vẫn gặp khó khăn trong việc áp dụng đúng quy trình tố tụng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ mà còn gây ra những hệ lụy xã hội nghiêm trọng.

III. Phương pháp cải thiện thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên

Để nâng cao hiệu quả của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên, cần có những phương pháp cải thiện cụ thể. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật và tăng cường công tác tuyên truyền là rất cần thiết.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục tố tụng

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo tính đồng bộ và đầy đủ. Điều này sẽ giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người chưa thành niên trong quá trình tố tụng.

3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên và gia đình họ là rất quan trọng. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Hà Nội

Nghiên cứu thực tiễn tại thành phố Hà Nội cho thấy có nhiều điểm cần cải thiện trong thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên. Các số liệu thống kê cho thấy tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện đang gia tăng, điều này đòi hỏi sự chú ý từ các cơ quan chức năng.

4.1. Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Theo thống kê, số lượng người chưa thành niên phạm tội tại Hà Nội có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Điều này cho thấy cần có những biện pháp can thiệp kịp thời.

4.2. Kết quả áp dụng thủ tục tố tụng tại Hà Nội

Kết quả áp dụng thủ tục tố tụng cho thấy nhiều vụ án vẫn chưa được xử lý đúng quy trình. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người chưa thành niên mà còn gây ra những hệ lụy xã hội nghiêm trọng.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của thủ tục tố tụng

Việc hoàn thiện thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là một nhiệm vụ cấp thiết. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên trong quá trình tố tụng.

5.1. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của họ mà còn góp phần vào việc giáo dục và cải tạo.

5.2. Hướng phát triển tương lai của thủ tục tố tụng

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các quy định pháp luật để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong bộ luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bản thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên Ngƣời chƣa thành niên với đặc thù là những ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, vì vậy khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế, nhiều trƣờng hợp do bị kích động, xúi giục, lôi kéo dẫn đến hành vi phạm tội. Mỗi quốc gia khác nhau, tùy vào điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của từng quốc gia mà có quy định cụ thể về ngƣời chƣa thành niên cũng nhƣ trách nhiệm hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội.

Điều 1 Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em đƣợc Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989 ghi nhận: "Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [29, tr. Pháp luật của một số quốc gia lại quy định độ tuổi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên là 14 tuổi nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Nga… nhƣng ở Singapore, Thái Lan… lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi, trong khi đó ở Peru, Colombia… tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi trùng với tuổi xác định là thành niên [75]. Ở Việt Nam, thuật ngữ ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc dùng trong khoa học pháp lý hình sự. Theo đó, BLHS quy định ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.

7 Điều 68 BLHS 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”. Tuy nhiên, không phải tất cả ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đều bị coi là tội phạm mà BLHS quy định rõ chỉ những ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS 1999). Vậy, ngƣời chƣa thành niên phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự là: Ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc nguời từ đủ 16 tuổi đến dƣới 18 tuổi phạm một tội đƣợc quy định trong BLHS. BLTTHS 1999 cũng dành một chƣơng riêng (Chƣơng XXXII) quy định về thủ tục giải quyết vụ án mà bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên.

Tuy nhiên cả BLHS và BLTTHS đều không đƣa ra một khái niệm cụ thể thế nào là ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Hơn nữa, không thể đồng nhất khái niệm tội phạm do ngƣời chƣa thành niên gây ra và khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội, bởi lẽ khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do ngƣời chƣa thành niên gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã đƣợc thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên [33, Tr 8 - 9]. Có thể hiểu ngƣời chƣa thành niên phạm tội nhƣ sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và phải chịu các chế tài do pháp luật quy định. Ngƣời chƣa thành niên phạm tội là ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về 8 tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và nhiều khi còn bị tác động mạnh của những điều kiện bên ngoài.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải đƣợc tiến hành hết sức thận trọng, cụ thể và chính xác trên cơ sở xem xét đầy đủ các yếu tố của bản thân và những điều kiện bên ngoài tác động đến ngƣời đó. Chính vì vậy, thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên cũng cần chú ý những đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên để giúp họ bảo vệ đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng nhƣ tạo điều kiện để họ thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng [7, Tr 526]. Có thể định nghĩa về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên là: Những quy định cụ thể cần áp dụng để giải quyết vụ án hình sự có người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ trong hoạt động TTHS. Mục đích của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên Xuất phát từ đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên là những ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất, về trí tuệ và tâm sinh lý, chƣa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhƣ ngƣời thành niên nên pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có những quy định đặc thù áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên tại Chƣơng XXXII, từ Điều 301 đến Điều 310 nhằm đảm bảo quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Việc quy định một chƣơng riêng về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên là hết sức cần thiết bởi lẽ: - Thứ nhất, BLTTHS quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên nhằm thể chế hóa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Việc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm để sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho họ thực hiện nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng hình sự. Ngoài ra, còn 9 đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với ngƣời chƣa thành niên phải đƣợc tiến hành một cách khách quan, phù hợp, toàn diện và đúng pháp luật [35, Tr 26]. - Thứ hai, việc quy định thủ tục tố tụng riêng với ngƣời chƣa thành niên còn để đảm bảo quyền của ngƣời chƣa thành niên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng nhƣ ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm quyền của ngƣời chƣa thành niên từ phía cơ quan tiến hành tố tụng.

- Thứ ba, pháp luật TTHS ghi nhận các quyền của ngƣời chƣa thành niên, tạo cơ sở pháp lý cho ngƣời chƣa thành niên thực hiện quyền – nghĩa vụ pháp lý của mình và trách nhiệm của Nhà nƣớc và các chủ thể khác trong việc đảm bảo cho họ đƣợc hƣởng những quyền đó. CƠ SỞ QUY ĐỊNH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN VÀ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. Cơ sở quy định thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên Thứ nhất: Về yếu tố tâm sinh lý của ngƣời chƣa thành niên Do đặc trƣng về lứa tuổi cũng nhƣ sự phát triển chƣa đầy đủ về thể chất, tinh thần, kinh nghiệm sống, trình độ nhận thức nên ngƣời chƣa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý khác so với ngƣời thành niên. Có vụ án xảy ra xuất phát từ những mâu thuẫn đơn giản, nhiều khi chỉ là sự khích bác của những đứa trẻ với nhau hoặc đơn giản chỉ là “nhìn nó ngứa mắt”.

Tâm lý chung của ngƣời chƣa thành niên là dễ bị kích động, tính kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp [33, Tr 20]. Khi phạm tội và bị bắt thƣờng sẽ có tâm lý chán nản, tuyệt vọng, sợ hãi. Vì vậy, khi bị hỏi cung bị can do tâm lý sợ hãi, căng thẳng, xấu hổ nên thƣờng im lặng không chịu khai báo hoặc khai báo lộn xộn, không trung thực. Ngoài ra, thái độ khai báo của các em còn 10 phụ thuộc vào thói quen và cách sống của các em cũng nhƣ tình cảm gia đình, bạn bè.

Khi các em nhận thấy lời khai của mình có thể tác động đến danh dự, uy tín của bản thân và gia đình hoặc xấu hổ trƣớc mọi ngƣời thì sẽ không dám nói. Hơn nữa, khi gặp Điều tra viên, nếu Điều tra viên tạo cho các em cảm giác sợ hãi sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới lời khai của các em nên tính trung thực cũng nhƣ tính chính xác trong lời khai không cao. Bên cạnh đó ngƣời chƣa thành niên dễ bị chịu ảnh hƣởng môi trƣờng xung quanh, có tính hay bắt chƣớc nhƣng chƣa có khả năng tự kiềm chế và đánh giá vấn đề xảy ra với mình một cách toàn diện nên khi đã phạm tội cần phải xem xét việc giam giữ riêng ngƣời chƣa thành niên và ngƣời thành niên [33, Tr 21-22]. Từ sự phân tích trên có thể coi yếu tố tâm, sinh lý là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng hành vi phạm tội của ngƣời chƣa thành niên.

Do vậy, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên cần có những quy định phù hợp dựa trên các yếu tố tâm, sinh lý này. Thứ hai, về yếu tố xã hội và pháp luật Nƣớc ta hiện nay rất coi trọng việc bảo vệ giáo dục ngƣời chƣa thành niên. Điều này đƣợc thể hiện qua hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em bao gồm: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Lao động; Bộ luật Dân sự; BLHS; BLTTHS. mục tiêu của các quy định pháp luật này đều hƣớng tới việc giúp đỡ, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước , gia đình và xã hội bảo vệ , chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấ n đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [49, Điều 37, Khoản 1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ