Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình. Chương 2: Pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng về thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình. Chương 3: Hoàn thiện các quy định về thủ tục tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÒA GIẢI VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỦ TỤC HÒA GIẢI VỤ VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm thủ tục hòa giải vụ việc hôn nhân và gia đình Hoà giải là một phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các mối quan hệ xã hội đã có từ lâu đời của dân tộc ta nói riêng và truyền thống, tập quán trên thế giới nói chung. Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết, thương yêu giữa các thành viên trong gia đình, giữa các thành viên trong cộng đồng dân cư từ lâu đời, tình cảm giữa người với người bao giờ cũng là một vấn đề rất quan trọng khi quy định một vấn đề nào đó liên quan đến quyền lợi của cá nhân. Để giải quyết được tất cả các mâu thuẫn thường ngày xảy ra trong từng gia đình và trong đời sống con người, vấn đề hợp lý là rất quan trọng song không thể không kể đến hai chữ hợp tình – đó là hai mặt của một vấn đề cần thông nhất không thể tách rời trong truyền thống của dân tộc, truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình.
Mục đích của việc giải quyết các mâu thuẫn quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân sự nói chung và lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng là phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vừa phải hàn gắn và giữ vững được tình đoàn kết thương yêu giữa họ. Vì vậy, đây là điểm xuất phát khá quan trọng để quy định thủ tục hòa giải khi giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình. Có thể nói các tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có nguyên nhân xảy ra từ những xích mích, va chậm nhỏ, từ ý thức không tôn trọng các quyền của các chủ thể khác,. do không được giải quyết hoặc giải quyết không triệt để, các xích mích nhỏ này trở thành những mâu thuẫn ngày càng phức tạp mà các chủ thể không tự giải quyết được và có yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết về nội dung của những tranh chấp.
Và TAND nhân danh quyền lực Nhà nước, thực hiện quyền lực Nhà nước, đặc biệt là quyền xét xử có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước, của xã hội. 11 Tại Điều 4 BLTTDS năm 2004 có quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Do vậy, khi một công dân tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình mà có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì họ có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án công nhận tính pháp lý của sự thỏa thuận để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 179 BLTTDS năm 2004, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong các quyết định: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử.
Như vậy, một trong bốn quyết định trên thì quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là kết quả của thủ tục hòa giải. Vậy hoà giải là một thủ tục tố tụng do Toà án nhân dân tiến hành, nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết quan hệ đó cho phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội. BLTTDS năm 2004 quy định các tranh chấp về hôn nhân gia đình (Điều 27) thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là ly hôn, về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ, về cấp dưỡng và các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. Và các yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn, chấm dứt việc nuôi con nuôi… (Điều 28 BLTTDS năm 2004).
12 Điều 1 BLTTDS năm 2004 quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án… Với quy định này, phạm vi điều chỉnh của BLTTDS là vụ việc dân sự, gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự là vụ có tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân, tổ chức với nhau. Các tranh chấp gồm tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh và thương mại, tranh chấp lao động. Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết sẽ trở thành vụ án dân sự.
Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đề nghị Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý mà phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức này. Có các việc yêu cầu về dân sự, các việc yêu cầu về hôn nhân và gia đình, các việc yêu cầu về kinh doanh và thương mại, các việc yêu cầu về lao động. Tất cả các việc yêu cầu này được gọi chung là việc dân sự. Như vậy, theo quy định của BLTTDS thì việc áp dụng thủ tục hoà giải khi tiến hành giải quyết quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có quy định mới so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, theo đó, Toà án chỉ tiến hành hoà giải đối với các tranh chấp về hôn nhân nhân gia đình theo quy định tại Điều 27 - BLTTDS, còn đối với việc thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật và một số vụ việc hôn nhân và gia đình khác có tiến hành hòa giải hay không phải được xem xét trong quá trình giải quyết các việc dân sự đó.
Bởi vì: Đối với việc hủy kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Đây là việc làm mà pháp luật cấm mọi công dân vi phạm, do vậy, theo quy định BLTTDS thì yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật được thụ lý theo khoản 1 Điều 28 và được giải quyết theo thủ tục việc dân sự. Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án không được hòa giải vì nếu tiến hành hòa giải trong trường hợp này 13 là trái pháp luật và trật tự công cộng. Vì vậy, trong việc hủy hôn trái pháp luật này các bên vi phạm không thể điều đình với nhau mà Tòa án phải ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật đó, không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 17 LHNGĐ năm 2000.
Đối với việc thuận tình ly hôn là việc hai vợ chồng cùng có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, trong đó thỏa thuận được cả về tài sản và quan hệ về con. Tòa án khi thụ lý phải xem xét bản chất của việc hôn nhân và gia đình đó. Xét về bản chất quan hệ hôn nhân và gia đình thì hai bên có mâu thuẫn, các bên đã thống nhất phương án giải quyết tranh chấp là cùng nhau chấm dứt quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, mục đích hòa giải thuận tình ly hôn là Tòa án phải giúp các đương sự tìm được phương án giải quyết tranh chấp mà là hòa giải đoàn tụ.
Theo Điều 90 LHNGĐ năm 2000 thì trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định. Vậy thủ tục hoà giải vụ việc hôn nhân và gia đình là trình tự do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Đặc điểm Thứ nhất, thủ tục hoà giải là thủ tục bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hôn nhân và gia đình: Hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình là một chế định pháp lý quan trọng, là một hoạt động tố tụng do Toà án thực hiện trên cơ sở quy định của quy định của BLTTDS năm 2004 và LHNGĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại khoản 2 Điều 179 BLTTDS năm 2004 thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong bốn 14 quyết định, trong đó có quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.