Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ 1. Khái niệm hình phạt tiền và căn cứ áp dụng hình phạt tiền 1. Khái niệm hình phạt tiền Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29]. Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị ngƣời phạm tội, giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Mặc dù đƣợc ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự, song vẫn chƣa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền trong các văn bản pháp luật hình sự và cho đến nay hình phạt tiền mới chỉ đƣợc ghi nhận trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành. Có thể kể đến một số quan điểm sau: - Phạt tiền là một loại hình phạt đƣợc áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác.
Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trƣờng hợp do luật định mà theo đó ngƣời bị kết án bị tƣớc một số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của ngƣời bị kết án và sự biến động của giá cả. - Phạt tiền là hình phạt không tƣớc tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo 6 không giam giữ, buộc ngƣời bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nƣớc một khoản tiền nhất định. - Phạt tiền là hình phạt tƣớc của ngƣời phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nƣớc. Các khái niệm trên mặc dù đã cố gắng chỉ ra các dấu hiệu pháp lý đặc trƣng của hình phạt tiền nhƣng còn dài dòng, chƣa phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lý.
Khái niệm "Phạt tiền là hình phạt tƣớc của ngƣời phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nƣớc" sử dụng thuật ngữ pháp lý "ngƣời phạm tội" để chỉ đối tƣợng bị áp dụng hình phạt tiền là chƣa hợp lý vì chỉ những ngƣời bị Tòa án quyết định áp dụng hình phạt tiền mới bị tƣớc một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nƣớc. Do vậy, sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ "ngƣời bị kết án" thay cho thuật ngữ "ngƣời phạm tội". Phạt tiền là hình phạt đƣợc qui định trong Bộ luật hình sự Việt Nam tƣớc đi của ngƣời bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nƣớc là khái niệm ngắn gọn phản ánh tƣơng đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trƣng cũng nhƣ nội dung pháp lý của hình phạt tiền. Căn cứ áp dụng hình phạt tiền Theo qui định của Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009: 1.
Hình phạt chính bao gồm:. Hình phạt bổ sung bao gồm:. e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; [29]. Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, hình phạt tiền có thể đƣợc áp 7 dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.
Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt chính có 74/272 chiếm tỷ lệ 27,2%. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định căn cứ để áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nhƣ sau: “1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này qui định” [29]. Nhƣ vậy, phạt tiền đƣợc qui định là hình phạt chính cho ba nhóm tội phạm sau: + Nhóm tội phạm có tính chất vụ lợi, ví dụ nhƣ: tội buôn lậu; tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; tội đầu cơ; tội trốn thuế; tội lừa dối khách hàng.
+ Nhóm tội phạm dùng tiền làm phương tiện phạm tội, ví dụ nhƣ: tội đánh bạc; tội tổ chức đánh bạc; tội gá bạc. + Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trƣờng hợp trên nhƣng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với ngƣời phạm tội nhằm đạt đƣợc tối đa mục đích của hình phạt. Ví dụ nhƣ: tội gây rối trật tự công cộng; tội hành nghề mê tín dị đoan; tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy; tội vi phạm qui chế về khu vực biên giới; tội xuất nhập cảnh trái phép; tội ở lại nƣớc ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép. Ngoài ra để quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì phải căn cứ theo qui định chung tại Điều 45 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào qui định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [29].
8 Một điều kiện không thể bỏ qua khi quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính là điều kiện kinh tế của ngƣời phạm tội phải có khả năng thực hiện nộp một khoản tiền nhất định theo hình thức một lần hay nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định. Phạt tiền còn đƣợc áp dụng là hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt Việt Nam. Khoản 2 Điều 30 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định căn cứ để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung nhƣ sau: “2. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này qui đinh” [29].
Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung có 111/272 chiếm tỷ lệ 40,8%. Phạt tiền là đƣợc qui định là hình phạt bổ sung cho ba nhóm tội phạm sau: + Nhóm tội phạm về tham nhũng, ví dụ nhƣ: tội tham ô; tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ. + Nhóm tội phạm về ma túy, ví dụ nhƣ: tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. + Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trƣờng hợp trên nhƣng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với ngƣời phạm tội nhằm đạt đƣợc tối đa mục đích trừng trị ngƣời phạm tội và mục đích phòng chống tội phạm.
Ví dụ nhƣ: tội mua bán ngƣời; tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; tội vu khống và một số tội phạm về xâm phạm sở hữu. Để áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung thì Tòa án còn căn cứ vào qui định chung tại Điều 45 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009. Điểm khác biệt so với trƣờng hợp áp dụng phạt tiền là hình phạt chính 9 thì khi áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung, điều kiện kinh tế của ngƣời phạm tội không phải là điều kiện bắt buộc để áp dụng. Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản và căn cứ áp dụng hình phạt tịch thu tài sản 1.
Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29]. Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị ngƣời phạm tội, giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Điều 40 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước” [29].
Tịch thu tài sản là biện pháp cƣỡng chế rất nghiêm khắc về mặt kinh tế. So sánh với các hình phạt chính không tƣớc quyền tự do và cả với một số hình phạt bổ sung khác thì hình phạt tịch thu tài sản còn nghiêm khắc hơn rất nhiều. Tính nghiêm khắc của hình phạt này thể hiện ở chỗ ngƣời bị kết án có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của họ sung vào quỹ Nhà nƣớc, nhằm mục đích triệt để thu hồi các tài sản của ngƣời bị kết án do thu lợi bất chính mà có, đồng thời triệt tiêu cơ sở kinh tế của họ nhằm ngăn ngừa họ có thể sử dụng các tài sản đó vào hoạt động phạm tội, gây nguy hại cho xã hội, thông qua đó giáo dục ngƣời bị kết án ý thức tôn trọng pháp luật, không phạm tội mới và răn đe những ngƣời có nguy cơ phạm tội trong xã hội, thực hiện phòng ngừa chung trong xã hội. Nhƣ vậy, chức năng cơ bản của loại hình phạt này là chức năng phòng ngừa tội phạm.
Căn cứ áp dụng hình phạt tịch thu tài sản Theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 thì tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung nên chỉ đƣợc áp dụng cùng các hình phạt chính chứ không đƣợc áp dụng một cách độc lập. Trong tổng số 272 điều luật qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật có qui định hình phạt tịch thu tài sản là 42/272 chiếm tỷ lệ 15,44%. Điều 40 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định điều kiện áp dụng hình phạt tịch thu tài sản nhƣ sau: Tịch thu tài sản chỉ đƣợc áp dụng đối với ngƣời bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trong trƣờng hợp do Bộ luật này qui định. Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho ngƣời bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống [29].