Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn được triển khai theo ba chương: Chƣơng 1: Vấn đề biểu tượng và cơ sở hình thành biểu tượng trong Điêu tàn Chƣơng 2: Giá trị biểu trưng của biểu tượng trong Điêu tàn Chƣơng 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong Điêu tàn e 7 Chƣơng 1 VẤN ĐỀ BIỂU TƢỢNG VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG TRONG ĐIÊU TÀN 1. Vấn đề biểu tƣợng trong văn hoá và văn học 1. Biểu tượng - từ góc nhìn văn hóa Biểu tượng (tiếng Anh: symbol, tiếng Pháp: symbole) là một thuật ngữ khoa học được sử dụng trong nhiều ngành với những nội hàm khác nhau. Khái niệm này cũng được dùng rộng rãi diễn trình cuộc sống con người.
Thời nguyên thuỷ, khi chưa có tư duy luận lí, con người tư duy thông qua các biểu tượng. Biểu tượng thời đó được dùng để chỉ một vật được cắt làm đôi: mảnh sứ, gỗ, kim loại. Hai người (chủ - khách, người cho vay - người vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài) mỗi bên giữ một phần. Sau này, ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối dây liên hệ ngày trước.
“Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó chứa đựng ý tưởng phân li và tái hợp, mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ. Ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó bị vỡ ra” [51, 23]. Điều này cũng có nghĩa là với người xưa, biểu tượng là dùng để chỉ một vật, gọi tên một sự vật nào đó. Biểu tượng là một trong những hình thức tín hiệu mà con người sử dụng để giao tiếp.
Như vậy, khi con người thoát thai khỏi loài thú, cái gọi là biểu tượng đã tồn tại như một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần của con người. Về sau, khi tri thức nhân loại đã đạt đến một trình độ nhất định để có thể ý thức được sự tồn tại của biểu tượng và có nhu cầu khám phá nó, lúc đó biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng được cả một cộng đồng dân tộc (có khi hơn một dân tộc) cùng chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian lâu dài. Sự tạo thành biểu tượng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô thức, nhưng tự bản thân chúng thể hiện nỗ lực của con người muốn xuyên qua bức màn mờ mịt của hiện thực, vượt lên những kinh nghiệm cảm tính cá nhân đơn lẻ để nhận thức về một thực tại siêu việt bị che lấp. Không phải ngẫu nhiên mà khát e 8 khao khám phá những bí ẩn huyền nhiệm là khát vọng thường trực trong bản tính con người.
Với con người hiện đại, thường xuyên sử dụng các biểu tượng, “chúng khoác lên các ước mơ một diện mạo, chúng xúi giục một toan tính nào đó, chúng nhào nặn một lối ứng xử, chúng khơi mào cho thành công hay thất bại” [51, 13]. Và biểu tượng trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày cũng như trong nghiên cứu khoa học. Khái niệm biểu tượng (symbole) xuất hiện lần đầu tiên năm 1886 trong bài viết có tựa đề “Traitéduverbe” (khái luận ngôn từ) của René Ghil và từ đó trở đi người ta bắt đầu quen dùng đến khái niệm này. Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm biểu tượng thì có rất nhiều cách hiểu, nhiều kiến giải khác nhau, bởi chính khái niệm này có sự vận động, lại tồn tại trong những môi trường khác nhau và vai trò nó cũng khác “tại đây” và “lúc này”.
Và các nhà nghiên cứu đã cố gắng nhận ra được cái mẫu số chung và các sắc thái ý nghĩa riêng của biểu tượng trong từng cách hiểu của mình. Trong lĩnh vực văn hóa, C.Jung cho rằng: “Biểu tượng là hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh… Biểu tượng không bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm tận đến phía ngoài kia, không thể nắm bắt, được dự cảm một cách mơ hồ và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt thỏa đáng” [51,198]. Biểu tượng vì vậy, đầy gợi cảm và sinh động, phong phú hơn nhiều một dấu hiệu, ký hiệu đơn thuần. Hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa, phụ thuộc vào cách giải thích, động lên các cấu trúc tinh thần làm phát lộ những bí ẩn của vô thức, của hành động, khai mở trí tuệ về cái chưa biết và cái vô tận.
Trong Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, các soạn giả đã rất cố gắng đưa ra cách hiểu về biểu tượng từ góc độ văn hoá, trên cơ sở so sánh biểu tượng với một số thuật ngữ mà hay bị lẫn lộn như: dấu hiệu (gồm biểu hiện, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lí) và kí hiệu. Từ e 9 đó, họ đi đến kết luận: biểu tượng phong phú hơn một dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần. Và khi đề cập đến bản chất của biểu tượng thì họ cũng khẳng định “bản chất khó xác định và sống động” bằng cách lần theo lịch sử và điểm qua một số cách hiểu nổi bật về biểu tượng, chẳng hạn như cách hiểu của một số nhà phân tâm học như S. Theo Freud, “biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột.
Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [51, 24]. Với cách hiểu này thì biểu tượng luôn là những tiếng nói của những ham muốn bị dồn nén (theo Freud, đó là những ham muốn tính dục), những xung đột chìm sâu trong vô thức của con người.Jung, môn đệ xuất sắc của Freud, với hướng đi riêng của mình cũng có rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải biểu tượng. Từ lí thuyết về vô thức tập thể, G.Jung cho rằng tất cả những biểu tượng của con người dù phong phú đa dạng đến đâu, đều có cấu trúc là những mẫu gốc. Mẫu gốc là những vết tích tâm lí hình thành từ thời nguyên thuỷ, di truyền theo loài và tạo thành những cấu trúc tâm thần gần như phổ biến của loài người.
Biểu tượng mẫu gốc, do đó nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Và đây là cách định nghĩa của tác giả về biểu tượng: “Biểu tượng là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh. Biểu tượng không gắn bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra bên ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phía ngoài kia không thể nắm bắt, được dự cảm một cách mơ hồ và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt thoả đáng” [51, 24].Becker thì lại “ví biểu tượng với một khối tinh thể phục nguyên lại theo cách khác nhau, nguồn sáng tuỳ theo từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng. Và ta còn có thể nói nó là một thể sống, một mẫu của con người ta đang chuyển động và biến đổi.
Đến mức cứ nhìn ngắm nó, bắt nó như là đối tượng suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta e 10 nắm bắt cái hướng vận động đang lôi kéo con người ta đang đi tới” [51, 25]. Với cách hiểu này, thì biểu tượng phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận, tức là nó chỉ tồn tại ở bình diện chủ thể nhưng trên cơ sở bình diện khách thể. Và cũng do bản chất sống động và biến đổi của biểu tượng, để nắm bắt được nó người đọc phải tìm được “quỹ đạo” phải thực sự “sống” với nó thì mới có thể hiểu được nó. Nghiên cứu biểu tượng văn hoá không thể không bàn đến chức năng của nó.
Cũng trong công trình này, vấn đề chức năng của biểu tượng đã được J.Chevalies đề cập đến một cách có hệ thống và toàn diện. Theo tác giả, biểu tượng văn hoá có các chức năng cơ bản sau: chức năng nhận thức (khám phá, thăm dò, đưa dẫn đến cái chưa biết trong nhận thức về thực tại); chức năng biểu hiện; chức năng trung chuyển (liên kết các yếu tố của đời sống văn hoá: con người và vũ trụ, cái nội tại và cái siêu tại, giữa các góc độ tinh thần); chức năng giáo dục và trị liệu (điều chỉnh và hoàn thiện nhân cách con người trong các mối quan hệ nói trên); chức năng xã hội hoá (tạo ra đặc trưng của một thời đại, một nền vă hoá, là cơ sở cho sự giao lưu, thẩm thấu của các nền văn hoá); chức năng siêu nghiệm (thiết lập mối liên thông giữa các năng lực đối kháng tinh thần và từ đó vượt lên mở đường cho sự tiến bộ của ý thức). Chức năng của biểu tượng thơ ca là sự hiện thực hoá các chức năng của biểu tượng văn hoá thông qua nghệ thuật ngôn từ. Từ đó, họ khẳng định vai trò của biểu tượng “một thế giới không có biểu tượng thì sẽ ngạt thở: nó sẽ tức thì giết chết đời sống tinh thần của con người” [51, 32].
Trên đây là một số kiến giải về biểu tượng mà các soạn giả Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới trích dẫn, những kiến giải này phần nào đã làm sáng tỏ được bản chất của biểu tượng trong đời sống văn hoá. Tuy nhiên, họ cũng không đưa ra được một định nghĩa, một khái niệm về biểu tượng mang tính cụ thể, xác định, bởi họ quan niệm “không có cách gì định nghĩa được biểu tượng. Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm” [51, 14]. Và họ còn khẳng định “việc hiểu biểu tượng phụ e 11 thuộc vào một sự tiếp nhận trực tiếp nào đó của ý thức nhiều hơn là vào các môn học thuần lí.
Lối phân tích bằng cách cắt vụn và đập nhỏ ra không thể nắm bắt được sự phong phú của biểu tượng, trực giác không phải bao giờ cũng đạt được điều đó; phải tổng hợp và đồng cảm hết mực nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cách nhìn nào đó về thế giới. Mỗi biểu tượng là một vũ trụ vi mô, một thế giới toàn vẹn. Không thể nắm bắt được cái ý nghĩa toàn vẹn bằng cách tích luỹ các chi tiết theo lối phân tích: cần có cái nhìn gần như là nhất lãm” [51, 27]. Như vậy, ta cũng thấy rằng, để định nghĩa và hiểu thấu đáo được biểu tượng là điều không phải dễ dàng.