CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE TAO DONG LUC LAO DONG CHO NHAN VIEN THONG QUA THU LAO TAI CHINH TAI DOANH NGHIEP 1. Cac khai niém 1. Nhân viên Theo Wikipedia Bách khoa toàn thư mở (2022): “Nhân viên hay cả một đội ngũ nhân viên là những người làm thuê cho một tổ chức, đơn vị hay một cơ quan, đoản thể nào đó nhưng thiên về lao động trí óc hơn” [20]. Còn theo Từ điền tiếng Việt: “Nhân viên là người làm việc trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với thủ trưởng của cơ quan, tổ chức đó.
Nhân viên bán hàng. Nhân viên đại sứ quán” [17]. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm nhân viên là người lao động không giữ vị trí lãnh đạo, có đủ độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật và có đủ sức khỏe để tham gia vào các quan hệ lao động, ký kết hợp đồng với người sử dụng lao động, được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tuy theo cách phân loại khác nhau mà nhân viên sẽ có nhiều dạng và hình thức tồn tại.
Phân loại nhân viên theo tên gọi gắn với công việc là cách phân loại phổ biến. Với cách phân loại này thì nhân viên sẽ được ghép với nghề nghiệp, công việc chính của họ. Ví dụ: Nhân viên kinh doanh, nhân viên kỹ thuật, nhân viên lễ tân, nhân viên chăm sóc khách hàng 1. Tạo động lực lao động Bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn người lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tô chức.
Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có những 10 người lao động làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng có những người lao động làm việc trong trạng thái thiếu hứng thú trong lao động, thờ ơ với công việc, thậm chí bỏ việc, kết quả thực hiện công việc thấp. Câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi cá nhân người lao động. Động lực lao động được các nhà nghiên cứu đề cập từ nhiều góc độ khác nhau. Theo Lê Thanh Hà (2009): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [5, tr. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [11, tr. Còn theo Nguyễn Thị Hồng (2020): “Động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động để tăng cường các hoạt động lao động hướng tới việc đạt được mục tiêu của mình thông qua việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động thể hiện thông qua mức độ nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường hiệu suất làm việc của cá nhân, nhóm và tô chức” [6, tr.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực lao động nhưng bản chất của những cách tiếp cận này đều hướng tới sự khao khát và tự nguyện nỗ lực làm việc của người lao động. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tiếp cận động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động hướng đến hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được giao từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Động lực lao động bắt đầu hành vi tích cực liên quan đến công việc, nó thúc đây quá trình nễ lực làm việc. 11 Van dé tao động lực lao động cho nhân lực nói chung va cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo Lê Thanh Hà (2009): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tô chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu đề đạt được các mục tiêu của bản thân và tô chức” [5, tr. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [1I, tr. Còn theo Nguyễn Thị Hồng (2020): “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lào động nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc. Như vậy, có thể thiểu tạo động lực lao động chính là quá trình làm nảy sinh, duy trì và tăng cường động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động” [ó6, tr.
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, hoạt động tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, nỗ lực làm việc và mong muốn được đóng góp đề giúp tô chức, doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra. Thù lao tài chính Theo Lê Thanh Hà (2009): “Thù lao lao động là tất cả những khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ phía người sử dụng lao động thông qua việc bán sức lao động của mình” [5]. Như vậy có thể hiểu thù lao lao động là tất cả 12 những lợi ích như tiền lương, thưởng, phúc lợi, cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc, sự cân bằng giữa cuộc sống cá nhân, gia đình và công việc. mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ và doanh nghiệp.
Có nhiều cách tiếp cận thù lao lao động trong doanh nghiệp như thù lao tài chính, thù lao phi tài chính; thù lao cố định, thù lao biến đổi; thù lao cơ bản, khuyến khích tài chính và phúc lợi. Tiếp cận theo nội dung có thé chia thù lao lao động thành thù lao tài chính và thù lao phi tài chính. Thù lao phi tài chính gồm các yếu tố như môi trường làm việc, cơ hội phát triển, nội dung công việc. Thù lao tài chính gồm tiền lương, khuyến khích tài chính và phúc lơi tài chính.
Thù lao lao động | Ỷ t Thù lao tài Thù lao phi tài chính chính | | Khuyén re ôi Tiền lương khích tai || Phúc lợitài trường Cơ hội Nội dung { chính nak Ð +A chinh làm việc phát triên công việc Hình 1.1: Kết cấu của thù lao lao động (Nguôn: TS. Đỗ Thị Tươi, 2018) Về thù lao tài chính, theo Đỗ Thị Tươi (2018): “Thù lao tài chính là các khoản thù lao được doanh nghiệp thực hiện thông qua các công cụ vật chất, giúp người lao động tái sản xuất sức lao động. Nó bao gồm các khoản như tiền lương cơ bản, phụ cấp lương, tiền thưởng cố định hàng năm, hoa hồng, phân chia năng suất, phân chia lợi nhuận, bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi tài chính, an sinh xã hội. Theo Nguyễn Thị Hồng (2020): 13 “Trong doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ được thực hiện qua hai hình thức cơ bản là đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính.
Chính sách đãi ngộ tài chính là một trong những công cụ biểu hiện rõ ràng nhất lợi ích kinh tế của người lao động, do đó nó có tác dụng kích thích vật chất cơ bản đối với bất cứ người lao động nào” [6, tr. Theo Vũ Hồng Phong (2020): “Thù lao tài chính là các khoản thù lao lao động người sử dụng lao động thực hiện thông qua công cụ tiền bạc, giúp người lao động tái sản xuất sức lao động. Thù lao tài chính bao gồm các khoản như tiền lương cơ bản, phụ cấp lương, hoa hồng bằng tiền, phân chia lợi nhuận, phúc lợi tài chính” [9, tr. Như vậy, thù lao tài chính được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung đều hướng đến bản chất của thù lao tài chính là các lợi ích người lao động nhận được bằng tiền.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giá tiếp cận thù lao tài chính trong doanh nghiệp là các lợi ích nhân viên nhận được bằng tiền bao gồm tiền lương và phụ cấp lương, tiền thưởng và các phúc lợi tài chính. Xét về kết cấu thì thù lao tài chính gồm 3 thành phần là tiền lương và phụ cấp lương, tiền thưởng và các phúc lợi tài chính: - Tiền lương, phụ cấp lương: Tiển lương: Tại Điều 90 của Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức đanh, phụ cấp lương và các khoản bồ sung khác” [10]. Theo giáo trình Tiền lương - tiền công của trường Đại học Lao động - Xã hội thì tiền lương được hiểu: “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với 14 các quy định tiền lương của pháp luật lao động” [12, tr. Theo Đỗ Thị Tươi (2018): “Tiền lương là sé lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động thông qua sự thoả thuận giữa các bên trong quan hệ lao động và phù hợp với các quy định của pháp luật lao động” [15, tr.
Còn theo Nguyễn Thị Hồng (2020): “Đối với người lao động thì tiền lương là khoản thu nhập chính trong hệ thống thù lao mà họ nhận được. Khoản tiền lương này sẽ giúp người lao động tái sản xuất sức lao động của mình, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của không chỉ bản thân họ mà còn được dùng để duy trì nhu cầu cuộc sống hàng ngày của gia đình. Nếu tiền lương xứng đáng với sức lao động của người lao động sẽ là nguồn động lực lớn nhất giúp họ nâng cao hiệu quả làm việc của mình” [6, tr. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp cận tiền lương là công cụ thù lao tài chính quan trọng, thông qua đó, doanh nghiệp có thể tạo động lực lao động, kích thích nhân viên nỗ lực phân đấu vì mục tiêu của doanh nghiệp.